Từ điển tiếng Việt của người Mỹ…

0
161

(được tìm thấy trong sổ tay của một du khách Mỹ đánh rơi trên bãi biển Đà Nẵng, Việt Nam).

– Ăn đi: Không có nghĩa là vừa ăn vừa đi mà chỉ nhắc nhở ai đó ăn mạnh vào.

– Ăn mặc: Không có ăn chi cả mà chỉ có mặc không thôi.

– Ăn nói: Cũng không ăn chi cả mà chỉ nói không thôi.

– Buồn cười: Không có buồn gì cả mà chỉ có cười không mà thôi.

– Cà lăm, Cà nhắc, Cà chớn, Cà khịa, Cà rịch, Cà tang: Không phải những loại Cà để ăn, mà những tật không hay của người ta.

– Đánh Giày: Không phải là phang, đánh, đập, đá vào giày mà là “o bế”, làm đẹp cho giày.

– Đánh Răng: Không phải là đánh, đập… cho răng đau, mà dùng bàn chải và kem làm cho sạch răng mà thôi.

– Đi Cầu: Là đi vô toilet chứ không phải lái xe hay chạy qua cầu đâu.

– Hai Vợ Chồng: Không có nghĩa là 2 vợ 1 chồng mà chỉ có 1 vợ 1 chồng thôi.

– Hai Ông Bà: Không có nghĩa là 2 ông 1  bà, mà chỉ có 1 ông 1 bà thôi.

– Làm thinh: Không có làm việc gì cả mà chỉ yên lặng, không nói năng chi hết.

– Làm biếng: Cũng không có làm chi hết mà chỉ… chơi không mà thôi.

– La cà: không la rầy ai cả mà rề rà ghé chỗ này chỗ kia.

– Làm răng (mần răng): Làm thế nào chứ không phải đi chữa răng đau đâu.

– Ngâm thơ: Không phải là đem lá thơ ngâm vô nước, mà là đọc… kéo từng chữ cho dài ra,cho người ta nghe hay hay.

– Nhà tôi: Không phải là cái nhà để ở mà NGƯỜI BẠN ĐỜI hay MỘT NỬA KIA… của mình.

– Nhà thơ, nhà văn, nhà báo: Không có nghĩa là nhà để chứa những bài thơ, bài văn hay báo chí, mà là chỉ người làm thơ, viết văn, viết báo…

– Ông Sui: Là Ba mình gọi Ba của vợ mình, chứ không có nghĩa là “Mr. Unlucky” đâu.

– Tục ngữ: Không phải là những lời thô tục, mà là những lời dạy dỗ quý báu trong dân gian.

SƯU TẦM