Tiếng lóng miền Nam thời xưa….

0
1415


Dân Sài Gòn còn chơi “mút mùa Lệ Thủy”? Có bạn cho rằng “mút mùa Lệ Thủy” (na ná “chơi tới” hiện nay) do nghệ sĩ cải lương Lệ Thủy nổi tiếng trước và sau 1975 có hơi rất dài, ca một câu dài “mút chỉ đường tàu”, “mút chỉ cà tha” (ý nghĩa tương đương).

“Hết sẩy” (rất tuyệt vời) – nhiều bạn đọc thốt lên khi đọc bài “Người Sài Gòn giờ không thấy xài mấy tiếng lóng này nữa”. Và thú vị hơn khi nhiều bạn kể ra hàng loạt tiếng lóng Sài Gòn xưa chưa “đi vùng 5” (chết).

Theo bạn đọc, Dominic On, trước năm 1975, chính quyền VN Cộng hòa ở miền Nam chia các khu hành chính quân sự thành 4 vùng chiến thuật, không có vùng 5 nên “đi vùng 5” ám chỉ “đi về miền cực lạc” (chết).

Tiếng lóng này, cũng theo Dominic On, tương đương với từ “ngủm củ tỏi”, “đi bán muối” cũng nói một người đã chết, như cá bị ướp muối (!).

“Hôm kia, ông nhạc gia của người bạn tới Mỹ. Khi hàn huyên, tôi nghe ông nói mấy từ “Tây hạ thành”, thực tình không hiểu nhưng không dám hỏi. Hôm nay, đang đi tìm nghĩa của mấy từ này thì lại gặp ở đây. Xin cảm ơn. Những bài báo như vầy rất quý đối với tôi”.

TTRUONG

Tuy nhiên, bạn Thanh Minh giải thích do làm muối là diêm dân, đồng âm với “Diêm vương” (người quản lý cõi âm) nên bán muối là đi gặp Diêm vương.

Bạn hongan60 lại cho rằng: Trước năm 1945, thực dân Pháp độc quyền buôn bán muối nên nếu ai vi phạm luật cấm đó sẽ bị xử tử, là “đi bán muối”. Bạn suongmai lại bảo do nhiều người đi bán muối xa không về…

Ai đúng ai sai chưa rõ nhưng chắc chắn tiếng lóng này giờ vẫn còn không ít bạn trẻ Sài Gòn “vẫn xài tốt”.

Thế là một loạt tiếng lóng Sài Gòn xưa nửa thế kỷ đã được kể ra, như có bạn giải thích “mút mùa Lệ Thủy” như “chơi tới” hiện nay do nghệ sĩ cải lương Lệ Thủy nổi tiếng trước và sau 1975 có hơi rất dài (mà soạn giả Viễn Châu bảo “được báo giới Sài Gòn trước đây phong tặng là giọng ca chuông ngân”), ca một câu dài “mút chỉ đường tàu” (ý nghĩa tương đương) nên mới nói “mút mùa Lệ Thủy” ám chỉ quãng thời gian, quãng đường… mút cuộn chỉ (ví dụ: “chơi… mút mùa Lệ Thủy” để chỉ những chuyện diễn ra rất dài, dài tới tới…).

Riêng “mút chỉ cà tha” thì hơi phức tạp vì cà tha vốn là từ katha (bùa) của bà con Khmer. Bà con Khmer Nam bộ đeo Cà Tha bằng là những sợi chỉ ngũ sắc do các vị sư sãi chùa Khmer se sẵn thành từng cuộn dài “mút chỉ” tặng vào dịp lễ tết.

Cũng còn không ít người Sài Gòn xài từ “kênh xì po” chỉ thái độ muốn… gây chuyện, do theo bạn Ngốc, vốn xuất phát từ kênh kiệu kiểu dân thể thao (sport – xì po).

…Và thế là hàng loạt từ Sài Gòn xưa mà theo bạn Ben Pham, không chỉ Sài Gòn mà về miền Tây, nhất là Cà Mau, Bạc Liêu… vẫn nhiều người biết và nói như về xe có xế nổ (xế là xe + nổ = xe máy), xế điếc (xe không nổ = xe đạp), xế hộp (xe coi như cái hộp = xe hơi).

Về trang sức có “đổng” (đồng hồ); giảng (dây chuyền, ví dụ: “đua giảng” là giựt dây chuyền)…

Về ứng xử có quê xệ (quê quá mức), xí xọn (nhiều chuyện), xảnh xẹ (tương đương “chảnh” hiện nay), quá cỡ thợ mộc (quá mức độ bình thường – ví dụ: “chơi quá cỡ thợ mộc”)…

Tụi tui hồi đó thấy có đứa nào điệu điệu một chút là nói con nhỏ đó xí xọn. Xí xọn không phải là nhiều chuyện đâu. Hôm nay đi đâu mà xí xọn quá vậy?

Rồi một từ lóng mà xưa ai nghe cũng xanh mặt: chó lửa (súng ngắn, súng lục – na ná với “hàng nóng” hiện nay). Na ná thôi vì “hàng nóng” hiện nay chỉ súng các loại.

Thật sự thú vị khi có tiếng lóng giờ nói vẫn có người hiểu như bạn Hai Nhách nêu: “ghệ” (con gái, bạn gái), xi cà que (người què, hàng kém chất lượng), xôi (vòng 1 phụ nữ – phải chăng do hình dáng tròn trịa như dĩa xôi)…

Những tiếng lóng gợi lại cả một thời Sài Gòn chưa xa

Bạn Văn Nhân kể ra một từ lóng có lẽ hiện nay hiếm người trẻ biết: “thím Thang Thang” mà theo bạn, ám chỉ bà Trần Lệ Xuân, vợ cố vấn Ngô Đình Nhu, Đệ nhất Phu nhân thời “Đệ nhất Cộng hòa Ngô Đình Diệm” mà theo bạn vì bà Lệ Xuân hay bốc, lên thang trong ăn nói, hành xử.

“Dân chơi cầu Ba Cẳng” cũng vậy, dù cầu Ba Cẳng (quận 6, cây cầu đi bộ bắc qua kinh Hàng Bàng) bây giờ không còn nhưng hình ảnh dân chơi bạt mạng ở một vùng đất lao động nghèo xưa đất Chợ Lớn, “bất cần thân thể” mà ai nghe tới cũng nể mặt – bạn Thành Vị nhắc lại tiếng lóng xưa này như nhắc tới một kỷ niệm một thời mình sống và lớn lên ở khu lao động nghèo này.

Đó là một trong những khu lao động, sống vật vưởng đầu đường xó chợ, vỉa hè với nhiều người lang thang thất nghiệp mà người dân gọi đó là dân “ma cà bông” (thật ra tiếng lóng này vốn là phiên âm của một từ nước ngoài: vagabond – người lang thang, thất nghiệp, vô gia cư).

Có một comment trong bài viết Người Sài Gòn giờ không thấy xài mấy tiếng lóng này nữa của bạn Anh Du được nhiều bạn đọc bấm nút thích (like) nhất là bình luận một tiếng lóng giờ hầu như không ai biết, đó là “con cháu nhà Hán”: “Cái chữ “con cháu nhà Hán” không chỉ bởi họ Lưu mà còn bởi tính lật lọng, lưu manh. Cứ nhìn Tập Cận Bình (Hán) mới hôm qua tuyên bố tốt đẹp, hôm nay qua Singapore nói Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Quốc từ thời cổ đại (!?)”.

Chắc chắn tiếng lóng Sài Gòn còn vô số những từ còn xài hoặc đã thất truyền, kể khó mà xuể – nói như bạn Nguyễn Anh: “Nói tới Tết Công Gô – ám chỉ chuyện không bao giờ xảy ra – mới hết”.

Quan trọng hơn, những từ lóng không chỉ nói cho vui mà còn ẩn sâu nhiều điều về cuộc sống, quan điểm, thời cuộc… mà khi lần mở lại, chúng ta sẽ hiểu hơn, thấm hơn rất nhiều bất ngờ.

CHUNG HAI

Là một người có làm nghề liên quan tới cải lương, tôi không đồng ý với tác giả bài này khi giải thích câu “mút mùa Lệ Thủy” cho rằng: “do nghệ sĩ cải lương Lệ Thủy nổi tiếng trước và sau 1975 có hơi rất dài, ca một câu dài “mút chỉ đường tàu”…”

Xin thưa, nghệ sĩ Lệ Thủy (bây giờ là NSND) chưa bao giờ ca câu vọng cổ nào hơi dài cả! Tôi dám khẳng định điều này, bởi vì tôi và má tôi rất mê giọng hát nghệ sĩ Lệ Thủy nên nhà tôi không thiếu băng đĩa cải lương và vọng cổ có NS Lệ Thủy hát. Tôi đã nghe hầu hết các bài hát và các vở cải lương của NS Lệ Thủy, từ khi cô còn trẻ cho tới bây giờ. Nữ NS Lệ Thủy có làn hơi không dài.

Trước năm 1975 không có nữ nghệ sĩ nào ca vọng cổ hơi dài cả. Phong trào ca vọng cổ hơi dài chỉ xuất hiện khoảng những năm đầu thập niên 90 với những giọng nữ như: Phượng Hằng, Linh Huệ, Cẩm Tiên. Tôi là thế hệ 7X, nếu như tôi nhớ không lầm thì câu “mút mùa Lệ Thủy” chỉ xuất hiện khoảng thập niên 80. Như vậy để giải thích cho câu nói “mút mùa Lệ Thủy”, theo tôi có hai ý. Thứ nhất là, thời cải lương thịnh hành, người Nam bộ nói chung ai cũng mê cải lương.

Vậy nên có rất nhiều trường hợp các chàng trai mê hát cải lương hoặc mê một cô đào hát hay nào đó đã trốn nhà theo đoàn hát cải lương để xin học nghề hoặc làm việc lặt vặt trong đoàn hát, mà đoàn hát thì cứ đi lưu diễn khắp nơi suốt mùa nắng. Thời ấy, nghệ sĩ Lệ Thủy là cô đào chánh quá nổi tiếng bởi có giọng hát rất hay và diễn giỏi nên hầu như ai cũng mê.

Mê Lệ Thủy rồi đi theo đoàn hát (đoàn hát có Lệ Thủy) tới “mút mùa” luôn, chẳng thấy về nhà. Ông hàng xóm hỏi: “Thằng Tý nhà đâu mà lóng rày hổng thấy nó hả ông Ba?”. Ông Ba trả lời: “Ôi thôi, nó mê con Lệ Thủy, trốn tao theo đoàn hát luôn rồi”. Ông Hàng xóm cười: “Cha, thằng này đi mút mùa luôn ta”. Ông ba chêm vào: “Ừ, đi mút mùa Lệ Thủy luôn rồi”…

Thứ hai là đơn giản thôi, câu nói “mút mùa Lệ Thủy” ra đời vào thời Lệ Thủy nổi tiếng, ai cũng mê và hay nhắc tên cô trong giao tiếp hằng ngày. Cái tên Lệ Thủy trở thành phổ biến, vậy nên khi nói chuyện, trong những từ ngữ hay câu nói vui vui người ta ngẩu nhiên kèm theo cái tên người mình yêu thích, trong trường hợp này là Lệ Thủy. Hoặc một hay một cụm từ có vần như là một từ đệm thêm vào phía sau cầu từ cần nói mà không cần nghĩa gì cả.

Ví dụ: Mút chỉ cà tha qua cà hôm đan xà ngôm, chua thấy bà nội luôn á, đi Trà Tim luôn rồi, qua Trà Quýt luôn á…

Trở lại với “mút mùa Lệ Thủy” trong trường hợp này, mút mùa đúng là diễn tả cái dài, xa, lâu… Còn Lệ Thủy chỉ là từ đệm vào cho vui câu.

NGUYỄN VỌNG CỔ

Ngày xưa thời phong kiến nghiêm cấm bán muối, buôn bán muối là tội chết. Nên đi bán muối là đi chết.

Từ “bồ” có từ lâu trong “bồ bịch, cặp bồ … và hay dùng phổ biến trong văn nói (bình dân) không thể coi là tiếng lóng. 

Nếu bạn thân đồng giới thì gọi là bồ Tèo.

Giai đoạn trước 1971 từ “ghệ” đã xuất hiện (trước 75), cùng với các từ “ghế linh” (gái trẻ), ghế lão (gái già),… Ngược với từ ghế là từ khứa.

Mèo là tiếng lóng chỉ người nữ làm bồ nhí đối với người đàn ông đã có gia đình.

Vài tiếng lóng xưa : 
– Ghệ là con gái do trại từ từ girl tiếng Mẽo, cua ghệ là tán gái
– Bể ống khói, thông nòng là nam bị bệnh lậu (miễn giải thích)
– Mậu lúi : hết tiền xuất phát từ tiếng Tàu
– Man, chập, tửng, té giếng : bị tâm thần, khùng
– Bà hỏa viếng : bị cháy nhà
– Phi, Ô, Hít, Choác : các từ chỉ các cách chơi ma túy thuốc phiện
– Bò lạc : gái điếm
– Dân mõi : kẻ móc túi
– Xí xọn : điệu quá mức
– Sảnh xẹ : tương tự như tù chảnh ngày nay
– Già dịch : là già mắc dịch không nên nét
– Xòn xồn : tuối trung niên
– Xòn xòn : mắn đẻ
– Hippy Ya-ua : chỉ đám trẻ thanh niên hippy ăn mặc dị hợm dơ dáy và bốc mùi chua như ya – ua
– Đá lông nheo : liếc mắt đưa tình
– Bề hội đồng : bị hiếp dâm tập thể
– Ăn cơm hớt : Thói hay nói leo
– Dính củ : lính bị giam vì vô kỷ luật
– Bị tó : bị bắt
– Tông tông : tổng thống
– Quê xệ, quê một cục : xấu hổ
– Trượt vỏ chuối : Thi rớt
– Bị sứa : từ xỉn ngày nay
– Cho chó ăn chè : Từ hò khi xỉn ngày nay
Đồ Mía ghim cóc ổi chỉ những người dân lao động ít học thiếu hiểu biết.
Cô gái nào đẹp và sạch sẽ thì khen là Mướt rượt. 
Hôn nhau thì gọi là mi nhau.
Từ “cù lần”. Ví dụ, “thằng ngó bộ gió coi cù lần quá!”. Ý là quê mùa, khờ khạo. 
Từ cù lần là ám chỉ những người khờ khạo, chậm chạp giống như con cù lần. Con cù lần là con vật trên rừng, bản tính nhút nhát, chậm chạp và rất dễ bị con người bắt sống.
Đi bộ thì nói đi lô ca chân.
Đưa tiền hối lộ thì nói ăn ở phải có đức (vì mệnh giá lúc bấy giờ 500 đồng có giá trị lớn có in hình Đức Trần Hưng Đạo).
Tiên ông chỉ những người hút á phiện.
Sài giấy Săn (cent) tiếng Pháp là người nói tục hay chửi thề.
Từ xế điếc, xế nổ, xế hộp là ra đời sau năm 1975 rất xa. 
“đồ đá cá, lăn dưa” chỉ đám ăn lưu manh ăn cắp vặt, 
dân “thầy chú” chỉ cướp có vũ trang nhưng giang hồ mã thượng, 
“gái bán bar” như mấy em bia ôm bây giờ, 
làm xiếc thì gọi là ” hát xiệc”,
chết thì còn gọi là” hui nhị tỳ”, 
mấy em mấy cháu bỏ nhà đi hoang thì gọi là ” đi bụi đời”.
“Tây ăn trầu” ý nói lời hứa không bao giờ có : Đợi Tây ăn trầu (cau) tao cho mày xe đạp.
Hoặc “mày nói chuyện tràm chim, tràm dơi” ý nói chuyện không có thật (bây giờ có tràm chim, tràm dơi ở Đồng Tháp rồi đó nghe).
“Đưa mày ra Vùng 1” ý nói lính bị đì. 
“Mèo mã gà đồng” ý nói làm chuyện trai gái lăn nhăn ở bụi lùm. 
“Con khỉ” ý nói phản đối ý kiến.
Tụi tui hồi đó thấy có đứa nào điệu điệu một chút là nói con nhỏ đó xí xọn. Xí xọn không phải là nhiều chuyện đâu.
Hôm nay đi đâu mà xí xọn quá vậy?
xúi quẩy = xui xẻo 
cuốc bộ là đi bộ
cuốc là 1 chuyến đi bằng xe. Ví dụ: bác xe ôm chạy được máy cuốc rồi?
bốc nhản = quá thơm (xuất phát từ dân xì) 
biến = tránh chỗ khác 
bá chấy = quá hay 
hẻo = ế ẩm 
bén = sắc sảo 
ngộp = chịu không nổi 
tưng quá = vui quá 
tửng = khùng quá 
chè bè = dư thừa 
khè = hù dọa 
quải = ngán ngẩm 
xí muội = dỏm 
điếc luôn = không hiểu gì hết 
quoắc cần câu = quá say
Cái gì mà bó tay luôn thì hay gọi: “thầy chạy”.

****

Bài viết hay nhưng theo tôi nếu tác giả muốn tìm những tiếng lóng trước 1975 thì nên tìm hiểu ở những người hiện nay trên 60 tuổi. Ở đây tác giả đưa ra một số từ “lóng” rồi cho rằng nó ra đời trước năm 1975 là không đúng như : ghệ (bạn gái, con gái) mà lúc đó gọi là bồ, nếu bạn thân đồng giới thì gọi là bồ Tèo. Còn từ xế điếc, xế nổ, xế hộp là ra đời sau năm 1975 rất xa. 

Tôi nhớ hồi ông cụ thân sinh tôi còn sống hay nói những câu mà hỏi ý nghĩa thì cụ giải thích nghe rất buồn cười như “đồ đá cá, lăn dưa” chỉ đám ăn lưu manh ăn cắp vặt, dân “thầy chú” chỉ cướp có vũ trang nhưng giang hồ mã thượng, “gái bán bar” như mấy em bia ôm bây giờ, làm xiếc thì gọi là “hát xiệc”, chết thì còn gọi là” hui nhị tỳ”, mấy em mấy cháu bỏ nhà đi hoang thì gọi là “đi bụi đời”.

Một vài lời góp thêm cho chủ đề này cho vui.

GIÀ CỐC ĐẾ

“Tới bến Mỹ Châu
Mút mùa Lệ Thủy”

Là một câu thành ngữ của Sài Gòn thập niên 60 khi tuồng kiếm hiệp rất nổi tiếng với hai cô đào cải lương Lệ Thủy, Mỹ Châu.

Lệ Thủy có một giọng ca kim pha thổ trong veo, tiếng ngân như chuông, lên câu vọng cổ ngọt xớt chân phương.

Mỹ Châu có giọng trầm mà buồn rười rượi. Đây là hai giọng hiếm và không có bản sao.

Khi hai cô đào này cất hơi lên câu hát thì khán giả nghe nó dài mút mùa, nó dài mút chỉ cà tha, thành ra có câu “Tới bến Mỹ Châu-Mút mùa Lệ Thủy”.

Sau dân bình dân, dân nhậu chỉ những lúc nhậu mà xin quắc cần câu thì họ kêu là “Tới bến Mỹ Châu-Mút mùa Lệ Thủy”.

Mở rộng ra khi nói “Tới bến Mỹ Châu-Mút mùa Lệ Thủy” là hiểu rằng hành động đó kéo dài, không dứt nữa chừng, tới bến luôn, là một cách chơi của dân Nam Kỳ.

NGUYỄN GIA VIỆT