Thương Nam kỳ là thương cái hồn xưa của nó…

0
247

Nam kỳ ta có tánh mở.

Với diện tích 67.870 km2, châu thổ Nam Kỳ là châu thổ lớn nhứt của Việt Nam.

Sông ngòi, kênh rạch của Nam chằng chịt tạo ra tư thế cho dân Nam Kỳ là muốn đi đâu thì đi, không ai cản nổi, đọc “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư sẽ thấy bà vợ bỏ đi, ông chồng kiếm cả đời không gặp.

Đọc sử, ta sẽ thấy tác giả của hệ thống làng đóng Bắc Kỳ là ông Trần Thủ Độ.

Đó là cái làng phòng thủ, có bờ tường và lũy tre làng bao quanh như pháo đài.

Văn Cao tả:

“Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều..”

Làng Bắc Kỳ là một cái pháo đài, cái ốc đảo tách biệt nhau ra,nhà dân đều có hàng rào, vô làng chỉ duy nhứt một con lộ nhỏ đi qua cái cổng làng, có tam quan, có chòi canh, có cánh cửa dày cui bằng gỗ lim. Người vô làng sẽ biết ai lạ ai quen dưới ánh mắt dò xét của dân làng.

Làng Bắc Kỳ không thân thiện, ít hiếu khách, phân biệt dân mới dân cũ, ma mới ăn hiếp ma cũ, phân biệt ngụ cư ngoài đê tùm lum, dân ngụ cư chết không được chôn trên đất làng.

Làng Bắc Kỳ có hương ước,”phép vua thua lệ làng”, có ông lý trưởng hét ra lửa như một tiểu vương.

Làng Nam Kỳ thì không, khác làng Bắc Kỳ 100%.

Nam Kỳ không có lũy tre bao quanh, nên khái niệm giậu tre già bao bọc không nhắc tới, không có cổng làng, không có dò xét, không phân biệt cũ mới, không xử án ngoài đình, không có phạt vạ cả làng rồi cả đám quan làng húp rột rẹt ngồi ăn như chết đói.

Ngày xưa nhà dân Nam Kỳ không có hàng rào, ranh đất quy ước, hàng xóm qua lại rất dễ.

Nam Kỳ mừng vui khi có người mới kéo tới cùng chung vai khai hoang lập ấp, sau này ổn định thì tá điền không sống nổi ở điền này thì có thể chạy qua tỉnh khác phá đất hoặc mướn ruộng của chủ điền khác mà làm ruộng.

Nam Kỳ không lập hương ước, không có luật làng, người Nam Kỳ ghét thói đạo đức giả kiểu Bắc Kỳ, Nam Kỳ chú trọng ngắn ngọn, thực chất, tránh lòng vòng, sống thực tế yêu ghét rặc ròi.

Tổ tiên Nam Kỳ rất dị ứng với quy tắc chặt chẽ hắc ám và những nghi thức rườm rà, phiền phức như ở nơi đất cũ nên vô Nam bỏ gần hết.

Nói vậy không có nghĩa Nam Kỳ luông tuồng.

Nam Kỳ có ‘luật ngầm’, nó nằm trong cách dạy con cháu, truyền miệng, đó là cách sống, những thứ thể hiện trong đời thường, đó là luật bất thành văn, ai tuân thì tiến, ai phá thì sẽ bị cộng đồng rời xa, luật chơi Nam Kỳ dễ mà khó.

Đó là tinh thần cởi mở trong quan hệ, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần một tinh thần dân chủ, tôn trọng ý thức của mỗi cá nhân.

Nam Kỳ không có thần phả, thần tích hoặc thánh phả,nếu có chỉ là những câu chuyện kể dân gian như “Nam Kỳ cố sự’, những bài thơ truyền miệng dạng vè như ‘Vè Thông Chánh’,”Vè Nọc Nạng” …

“Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra
Chép làm một bổn để mà coi chơi
Trà Vinh nhiều kẻ kỳ tời
Có thầy Thông Chánh thiệt người khôn ngoan”

Làng ở Nam Kỳ cũng không có hương ước và cũng không lập gia phả.

Vấn đề gia phả là rõ như ban mơi, khẳng định như đinh đóng cột là không lập gia phả.

Tui nói không phải nói cho vui.

Ông Sơn Nam là một nhà nghiên cứu có uy tín của Nam Kỳ. Ông được mọi người gọi là pho từ điển sống về Nam Kỳ.

Sơn Nam cũng nói là Nam Kỳ không lập gia phả.

(Dẫn chứng):

“Về gia phả gần như không có, người khẩn hoang ở Nam Bộ (Nam Kỳ) không ghi chép lại để che giấu lý lịch, đề phòng trường hợp tru di tam tộc, theo luật phong kiến. Có tấm bia ghi lại trường Bả Canh do ông Đỗ Công Tường từ Bình Định vào lập nghiệp từ đầu thế kỷ thứ 18, nay là chợ Cao Lãnh” (Trích Sơn Nam, Đồng Tháp Mười xa xưa, in trong Lịch sử Đồng Tháp Mười, Võ Trần Nhã (chủ biên), Nxb Tp.HCM, tr.31)

Sơn Nam cho nguyên nhân không lập gia phả là “để che giấu lý lịch”,nó chỉ là một trong rất nhiều nguyên nhân khác nữa mà nguyên nhân lớn nhứt là làm cho khác Bắc Kỳ khi lập xã hội mới tiến bộ hơn.

Nam Kỳ mang tính mở và động.

Và tánh tình người Nam Kỳ là mở và động.

Dân Nam Kỳ có đầu óc thông thoáng, cởi mở, và sẵn sàng ở tư thế giao lưu, tiếp thu, lắng nghe, hội nhập với cái mới.

Chính vì có tính cách ấy, khi tiếp xúc với cái mới người Nam Kỳ dễ dàng có thái độ bao dung, chấp nhận, rồi tích cực ủng hộ.

Chẳng phải Nam Kỳ xưa từng có Đỗ Thành Nhơn lập quân Đông Sơn đối chọi với Tây Sơn đó sao?

Đông Sơn đối nghịch công khai với Tây Sơn, dân Ba Giồng nuôi nó, Đông Sơn vang danh từ trước khi Nguyễn Ánh vô Nam.

Sau chúa Nguyễn Ánh chiếm vùng Ba Giồng hiểm yếu, giết Đỗ Thành Nhơn doạt binh, dân Nam Kỳ ly khai chúa một thời gian, nhưng sau đó vì đại cuộc lại quay qua ủng hộ, nuôi dưỡng chúa Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn.

Nam Kỳ trung hưng nhà Nguyễn, thành ra vua Gia Long luôn cúi đầu với Nam Kỳ.

Tôn Trung Sơn từng qua Nam Kỳ kinh tài,tìm sự ủng hộ.

Nam Kỳ có vô số phong trào chống Pháp ,nuôi phong trào Đông Du, chôn cất Phan Châu Trinh, thậm chí ông già tía Hồ Chí Minh là Nguyễn Sanh Huy cũng gửi núm xương tàn ở Cao Lãnh.

Văn minh Nam Kỳ Lục Tỉnh ở châu thổ gọi là văn minh “Miệt Vườn”

Dân sống rất ý thức, biết nhìn cái xa, biết thương yêu người cùng khổ, biết tầm nhìn vài chục năm.

Bắc Kỳ, Huế có mấy bài “văn chửi gà”, chứ Nam Kỳ đâu có, dân Nam bực quá ĐM, ĐM rồi lại mau quên.

Pháp qua, Nam Kỳ học cái hay của Pháp rất nhiều, tóc búi cắt tóc ngắn, đi giày dép, vệ sinh, nhà thương, trường học.

Nam Kỳ có nữ nhà báo đầu tiên, chủ bút và tờ báo nữ đầu tiên ở Việt Nam, có nữ bác sĩ đầu tiên, có đội đá banh nữ đầu tiên.

Nam Kỳ cũng có một Trương Vĩnh Ký say mê xiển dương chữ Quốc Ngữ, say mê làm thầy dạy học, sưu tầm thư tịch Nam Kỳ.

Petrus Ký là người Việt đầu tiên cho in sách bằng chữ Quốc ngữ “Người ta dùng sách này mà học tiếng thì lấy làm có ích. Vì trong ấy cách nói chính là cách nói Annam ròng”(Trích Petru Ký)

Người Nam Kỳ luôn tha thiết với san hà xã tắc, tình yêu quê hương xứ sở.

“Mùi đất nước ruộng bùn phảng phất
Nhớ cố hương ngây ngất lòng sầu.
Năm năm, bao cuộc bể dâu?”

(Bình-nguyên Lộc)

Nam Kỳ trọng truyền thống, truyền thống Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Truyền thống tức là những tính cách ít nhiều rõ nét từ đời trước truyền qua đời sau, cứ như thế, kế tiếp qua nhiều thế hệ, nếu có thay đổi thì cũng từ từ ở vài chi tiết nhưng trong nét lớn thì dường như cố định.

Truyền thống đó là gì? là cái gốc của ông bà, là ý thức giữ vẹn toàn xứ ở, là cái hồn nhiên ăn nói, viết văn, là cái mả, cái nhà, cái bàn thờ ba đời tổ tiên.

Và ý thức chánh trị Nam Kỳ Lục Tỉnh, quyền lợi Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Sơn Nam viết:

“Người ta là hoa của đất”, đất nào sanh ra hoa lá của đất ấy. Đại khái, có thứ đất sanh ra trái cam chua, có thứ đất sanh ra trái cam ngọt, khó thay đổi”,

Là người Nam Kỳ phải có ý thức bảo vệ quyền lợi Nam Kỳ,cái này là đầu tiên, không có quyền thì cả đời mày ăn cám xú như con heo.

Cái tiến bộ của ông bà mình là cái thấy rất rõ, từ đi bộ đã đi xe hơi, xe máy. Từ đi chưn đất đã mang giày, từ tóc dài đã cắt tóc ngắn, từ thầy lang vườn uống thuốc sắc trong siêu đã đi đốc tờ, nhà thương, thuốc Tây bịnh viện.

Cái áo dài giờ chỉ còn trong nghi lễ, những dịp Tết nhứt, đám cưới, đám ma. Áo dài quá rườm rà, không tiện sanh hoạt mọi nơi thì cái áo sơ mi, quần Tây đã thay thế.

Những trò bùa ngãi, trừ tà xưa cũng không còn.

Đó là truyền thống trong sự tiếp thu cái mới, cơ bản là cái gốc trong đầu, cái ý thức xứ sở trong chánh trị.

Coi bà Lựu dạy con gái cách cúng đình:

“Con cứ lên trên đám cúng đình, coi bà con làm sao, mình làm y vậy là trúng hà!”(Hết trích)

Ông bà mình làm sao cái mình làm y chang vậy hà.

Nhưng lưu ý, học cái hay, cái tiến bộ của ông bà, chứ không phải “đào hủ tục” của ông bà xưa ra rồi nói đó là truyền thống.

Để móng tay dài lòng thòng, đàn ông mà búi tóc thườn thượt, áo dài màu mè lỏng thỏng bất cứ mọi nơi, rồi nón ngựa nón bò quay xanh đỏ tím vàng, mở miệng méo âm gần hết con chữ, đi đâu cùng nhang khói xì xụp lạy bái…. không phải truyền thống Nam Kỳ ta đâu.

“Dù Tây, nón nỉ quai chỉ màu hường
Cả tiếng kêu người nghĩa đi đường
Duyên đây sao không kết lại kiếm đường đi đâu?”

Thương Nam Kỳ là thương cái hồn xưa của nó, cái ý thức lưu dân khai khẩn lập xóm lập làng, ý thức dân chủ, ý thức giữ quyền lợi kìa.

Thương và đau lắm!

“Viết lại đây mẩu đời luân lạc,
Thương những người chìm nổi, đầy vơi.
Thơ quê khôn tả hết lời…”

(Bình-nguyên Lộc)

Phải giữ được thế chủ động trong mọi hoàn cảnh dù là gay go.

NGUYỄN GIA VIỆT