Thư kiến nghi…

0
699

THƯ KIẾN NGHỊ
Về vấn đề dạy chữ Quốc ngữ theo sách Công nghệ giáo dục lớp 1 cải cách
~~~~~~~~~o0o~~~~~~~~~

Hà Nội, ngày 28 tháng 08 năm 2018

Kính gửi:
– Quốc hội nước Việt Nam
– Uỷ ban Thường vụ quốc hội
– Các Uỷ ban của quốc hội
– Thủ tướng Chính phủ
– Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
– Chánh án Toà án nhân dân tối cao
– Bộ Nội Vụ
– Bộ Giáo dục và Đào tạo
– Bộ Tư pháp

Đồng kính gửi: Toàn thể nhân dân, phụ huynh và học sinh trên cả nước.

Một đề xuất hủy hoại văn hóa…
Gửi PGS – TS Bùi Hiền….
Nỗi đau của giáo dục Việt…
Việt Nam đứng hàng thứ 19/20 quốc gia tốt nhất trên thế giới về giáo dục?
Giáo dục nặng mùi tiền…
Xin thầy hãy…!!
Thơ ngỏ gửi Bộ trưởng Bộ Giáo dục…
Cô gái Việt ở Nepal viết thư gửi Bộ trưởng Giáo dục
Thạc sĩ trứng vịt…
Danh sách đề tài luận án tiến sĩ “không thể tin nổi” ở Việt Nam
TS.Nguyễn Văn Khải: “Tiến sĩ dởm vào hùa với nhau là thảm họa cho dân tộc”
“Học Thạc sĩ, Tiến sĩ ở Việt Nam là một hiện tượng kỳ dị”

Tôi là: Lê Văn Luân, một luật sư và cũng là một công dân Việt Nam, đang sống và làm việc tại thủ đô Hà Nội, cùng toàn thể nhân dân cùng ký tên phần cuối thư này, mong muốn và một cách khẩn thiết gửi tới các Quý cơ quan những tâm tư cùng sự lo lắng tột độ của chúng tôi về một vấn đề rất cấp bách và cũng thực sự nghiêm trọng sau đây.

Trong thời gian vừa rồi, qua truyền thông và việc chứng kiến các nội dung sách giáo khoa mới được áp dụng theo chương trình cải cách đối với lớp 1, mà ở đó thể hiện các cách phát âm (đánh vần) khác hoàn toàn với chữ viết là tiếng Việt, vốn được ấn định là chữ Quốc ngữ của Việt nam từ hàng trăm năm nay, tất cả chúng tôi vừa thấy phẫn nộ lại vừa thấy kinh ngạc về sự việc này.

Thưa các Quý ông cùng các Quý cơ quan hữu trách,

Ngôn ngữ tiếng Việt, với tư cách và vai trò là chữ Quốc ngữ, được Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 5.3. Và theo đó, chữ Quốc ngữ là ngôn ngữ phổ thông, có tính đơn nhất và được áp dụng trên toàn quốc.

Ngôn ngữ có tính đơn nhất về hai mặt: chữ viết và ngữ âm.

Và do đó, một quốc gia không thể có hai ngôn ngữ hoặc các biến thể của ngôn ngữ song cùng tồn tại. Hơn nữa, vấn đề về ngôn ngữ phải được đưa ra Quốc hội thảo luận để thông qua trong Hiến pháp cũng như phải đưa ra toàn dân để trưng cầu dân ý, vì rằng, đây là vấn đề trọng đại của quốc gia, của dân tộc và của nhiều thế hệ người Việt trên đất nước chúng ta. Cho nên, không thể là vấn đề riêng của Bộ Giáo dục hoặc một vài nhà nghiên cứu có thể tự đưa ra và áp dụng trong hệ thống giáo dục một cách kín đáo và nhanh chóng. Đó hẳn là một hành vi vi hiến nghiêm trọng.

Điều 5.3 Hiến pháp hiện hành quy định: Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia.

Luật Ban hành văn bản quy phạm 2015, tại Điều 8: Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu;

Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009), tại Điều 7: Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục;

Luật Điều ước quốc tế 2016, tại Điều 5: Điều ước quốc tế hai bên phải có văn bản bằng tiếng Việt;

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quy định tiếng nói và chữ viết trong tố tụng dân sự là tiếng Việt;

Nghị quyết 351/2017/UBTVQH14, tại Điều 18: Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt; cách diễn đạt phải chính xác, rõ ràng, dễ hiểu;

Thông tư số 25/2011/TT-BTP về kỹ thuật trình bày văn bản, tại Điều 18, Điều 19 và Điều 20 quy định về việc văn bản sử dụng ngôn ngữ viết và từ ngữ đúng chức năng, từ ngữ đúng nghĩa;

Quyết định số 240/QĐ của Bộ Giáo dục năm 1984, tại mục A.1(b) quy định nguyên tắc chuẩn hoá tiếng Việt: Khi chuẩn hoá chính tả đã được xác định, phải nghiêm túc tuân theo; tuy việc chuẩn hoá và thống nhất phát âm chưa đặt thành yêu cầu cao nhưng cũng nên dựa vào chuẩn chính tả mà phát âm; tại mục B.1(b) phần Quy định cụ thể quy định: dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định;

Theo Tiêu chuẩn quốc tế hoá tiếng Việt đã đăng ký: tiêu chuẩn ISO 639-1 (mã hai chữ cái – vi) và tiêu chuẩn ISO 639-2 (mã ba chữ cái – vie) thì việc Việt hoá đã được định dạng chuẩn tắc trên hệ thông ngôn ngữ quốc tế như đã nêu.

Cùng một loạt các luật khác như: Luật Kế toán; Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Bưu chính; Luật Thương mại; Bộ luật Dân sự,…đều quy định rõ tiếng Việt là ngôn ngữ được sử dụng trong các giao dịch hay hoạt động, từ trong nước cho đến với người, tổ chức nước ngoài.

Trong khi đó, đối chiếu với các quy tắc đánh vần mới của sách giáo khoa Công nghệ giáo dục lớp 1, mặc dù dựa trên chữ viết Tiếng Việt, nhưng với cách phát âm đã bị thay đổi đến mức sai khác về ngữ âm và mặt liên kết chữ cái cũng như cấu tạo từ thông thường, khiến cho việc sử dụng tiếng Việt trở nên rối loạn và vô cùng phức tạp.

Cụ thể như sau:

Đối với các phụ âm đầu, sau khi được phát âm với cách đánh vần mới, sẽ không thể giúp người nghe biết được chữ viết tương ứng với nghĩa thực tế được sử dụng.

Ví dụ:

• Các chữ cái C, K và Q đều phát âm là Cờ. Như vậy, các chữ cái này đồng âm, và do đó, không thể phân biệt được các từ: Quả và Của hay Qua và Cua. Và, nếu ngược lại, nó sẽ vi phạm nguyên tắc một vần mà hai âm: ua đi với Q đọc là “oa” (hoặc a?), đi với C (hoặc phụ âm khác) là “ua”; không phân biệt được Tổ Quốc và Tổ Cuốc.
• Các chữ cái và phụ âm đầu như: D, R và Gi đều được phát âm là “Dờ”; Tr và Ch đều đọc là “chờ”. Như vậy, các chữ cái này đồng âm, và do đó, không thể phân biệt được các từ nguyên khác nhau về nghĩa nhưng đồng âm khi đánh vần: Diêng và Riêng và Giêng (hay: Rá và Dá và Giá), đều là như nhau nên không thể nhận biết từ nguyên.

Các nguyên âm đôi bị biến thể khi có phụ âm cuối:

Ví dụ:

• Nguyên âm: iê, yê, ia đều được phát âm là “ia”, và chỉ khi thêm n hay m làm phụ âm cuối vào “ia” thì phát âm thành “iên” hay “yên”, với nguyên âm u ở cuối thì giữ nguyên. Như vậy, không thể có cách liên âm mà việc phát âm các nguyên âm đơn là khác hẳn với âm vị khi ghép đôi. Và biến thể của việc phát âm cũng lại dẫn đến biến thể của mặt chữ viết; hay uôn, ua đều được phát âm là “ua”, và chỉ khi thêm phụ âm cuối vào “ua” thì phát âm thành “uôn”, trong khi “ua” lại có thể phát âm là “oa”.
• Từ: oach, việc phát âm dựa trên sự liên kết nguyên âm và phụ âm cuối, tức “o-a-chờ oach”, nay bị tách ra thành một nguyên âm đơn và một từ độc lập không có nghĩa và rất khó phát âm, thành “o-ach oach”. Hay: uynh, nguyên gốc theo chuẩn truyền thống là “u-y-nhờ uynh”, thì nay thành “u-ynh uynh”; hoặc uyêt, theo truyền thống phát âm là “u-y-ê-tờ uyêt”, nay thành “u-yêt uyêt”.

Cả hai trường hợp nêu trên (chỉ là những ví dụ điển hình mà không thể nêu hết ra trong khuôn khổ hạn hẹp của thư kiến nghị này, ngoại trừ việc nếu có một vụ kiện tại toà án đối với vấn đề này), đều cho thấy sự sai lệch rất trầm trọng của việc phát âm (đánh vần) đối với việc liên kết âm và cấu tạo từ tương ứng, và nó dẫn đến việc rối loạn việc nhận biết ngôn ngữ (mặt chữ).

Và hơn hết, việc giáo dục theo kiểu rút ngắn âm tiết, tức “giản đơn” theo cách cơ học và bỏ qua việc giáo dục chuẩn tắc đối với sự liên kết từ khi phát âm là đang phá huỷ đi bản chất của ngôn ngữ. Sự nhanh chóng để đọc (phát âm) sai ngữ âm so với chữ viết tạo nên khoảng trống về nhận thức đối với cách tạo từ, cách nhận ra các từ nguyên và từ đó là làm cho sự phức tạp về ngữ nghĩa của từ (hay cụm từ) trở nên trầm trọng.

Do vậy, trước một sự áp dụng có tính phổ quát trong các cơ sở giáo dục trên toàn quốc đối với cách đánh vần chữ viết như nêu trên, nhưng không được đưa ra bàn luận trước nhân dân:
Theo Điều 3, Điều 8, Điều 28, Điều 37, Điều 119 Hiến pháp 2013 về vị thế cao nhất của Hiến pháp và nghĩa vụ bảo vệ Hiến pháp,
Theo Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 về việc tham gia kiến nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật,
Theo Điều 14 về những hành vi bị nghiêm cấm: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên,
Theo Điều 162, Điều 163, Điều 164, Điều 165 và Điều 166 về việc giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật,
Chúng tôi kính đề nghị một cách khẩn cấp và kiên quyết đối với các cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm về việc cho dừng (đình chỉ) ngay tức khắc việc giáo dục đối với kiểu loại chữ viết này.

Và theo Điều 29.3 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009), được hợp nhất năm 2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo phải chịu trách nhiệm chính đối với việc để cho cùng một lúc tồn tại song song hai loại sách giáo khoa về tiếng Việt trong chương trình giảng dạy ở các cơ sở giáo dục. Và việc cùng thực hiện hai cách giảng dạy khác nhau đối với tiếng Việt là đang xâm phạm nghiêm trọng vào Hiến pháp, khi phá vỡ tính thống nhất và đơn nhất của chữ Quốc ngữ.

Hơn thế là, việc cải biến ngôn ngữ về mặt ngữ âm này không giải quyết bất cứ vấn đề gì về mặt lợi ích cho con người và xã hội, không những vậy, nó còn làm cho việc sử dụng ngôn ngữ trở nên khó khăn, khi cùng trong một hệ thống chữ viết lại có hai cách để “phát âm”. Nó còn làm ảnh hưởng đến tính hệ thống của ngôn ngữ, gây phương hại đến lịch sử, văn hoá và các sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Nó cũng sẽ phá vỡ mọi hệ giá trị đối với quốc sách hàng đầu là giáo dục. Nó dẫn đến sự chia cách thế hệ, làm biến dạng mọi sự giao tiếp và truyền đạt.

Do vậy, bằng tất cả trách nhiệm của một công dân, trước một sự việc có dấu hiệu vi hiến nghiêm trọng, được thi hành dưới dạng một chính sách (thông qua hình thức thông tư hoặc quyết định) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, về việc làm biến dạng tiếng Việt với vai trò là chữ Quốc ngữ, vốn được sử dụng để giao dịch trong nước và quốc tế qua hàng trăm năm, chúng tôi kính đề nghị Quốc hội, Thủ tướng chính phủ cùng các cơ quan có trách nhiệm của nhà nước, ra quyết định đình chỉ ngay tức khắc và không chậm trễ đối với việc thực thi chính sách “hai biến thể của ngôn ngữ” này của Bộ Giáo dục và Đào tạo, để tránh mọi sự xáo trộn và bức xúc trong nhân dân, tránh mọi áp lực và gánh nặng đè lên vai không chỉ học sinh mà ngay cả với thày cô trong hệ thống giáo dục trên toàn quốc (hẳn nhiên là với những tỉnh, thành đã áp dụng chương trình sách giáo khoa mới này).

Chúng tôi kính mong và khẩn thiết gửi tới các Quý ông, bà cùng các Quý cơ quan không chỉ được liệt kê trang trọng ở phần đầu thư, sẽ có trách nhiệm để ra một quyết định đúng đắn và kịp thời, quan trọng hơn là hợp hiến và hợp pháp để giữ gìn sự toàn vẹn, sự thống nhất, tính phổ thông và tính đơn nhất của ngôn ngữ quốc gia của chúng ta.

Kính thư và kính chúc sức khoẻ tới tất cả những quý vị đã dành thời gian xem xét, và sẽ tiến tới một quyết định thoả đáng nhất, trước các sự khuyến nghị và khiếu nại của công dân.

Trân trọng và kính chào!

LS LUÂN LÊ

Thực ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ cần luyện phát âm nờ, lờ thật chuẩn cho lãnh đạo Bộ là họ đã có một thành tựu lớn lao lắm rồi. Xin hãy tập trung nhân lực, tài lực, trí lực cho việc giúp lãnh đạo Bộ luyện phát âm nờ, lờ, thay cho việc dạy bọn trẻ tập đánh vần chữ tiếng Việt kiểu mới. Phát âm kiểu cũ còn không chuẩn thì tư cách gì mà dạy con trẻ phát âm kiểu mới.

Đôi khi tôi nghĩ rằng, chỉ cần cái Bộ Giáo dục và Đào tạo ấy ngoãn ngoãn ngồi yên, tuyệt đối không làm gì, đã là một sự đóng góp vô cùng lớn lao, vô cùng vĩ đại cho đất nước này và lịch sử sẽ lưu danh họ đến muôn đời.

Chỉ cần cái bộ có tên là giáo dục ấy không bày ra bất cứ thứ gì để làm, không cải tiến cải lùi gì hết, chỉ cần ngồi chơi ngày này qua ngày khác, sáng cắp ô đi chiều cắp ô về, thì tôi tin là nhiều người dân như tôi sẽ vẫn góp cơm gạo nuôi họ chẳng thiếu bữa nào.

Nếu anh chị nào lại muốn phản biện rằng, có làm thì mới có ăn, xin hãy bỏ ý định ấy.

Năm xưa, nhà tôi nuôi mấy con lợn. Lũ lợn không phải làm gì cả. Nhưng, ngày nào cũng vậy, cứ đến bữa là chúng được cho ăn no phè phỡn.

BẠCH HOÀN

CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ KHỞI KIỆN VỀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH TIẾNG VIỆT

Căn cứ pháp lý để khởi kiện chương trình giáo dục Tiếng Việt Công nghệ lớp 1 đang được áp dụng trong hệ thống giáo dục hiện nay:

Điều 5.3 Hiến pháp 2013: Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.

Điều 7 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009): Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

Điều 18 Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14:
1. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt; cách diễn đạt phải chính xác, rõ ràng, dễ hiểu.

5. Từ ngữ được sử dụng trong văn bản phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt, không làm phát sinh nhiều cách hiểu; trường hợp từ ngữ được sử dụng có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích rõ nghĩa được sử dụng trong văn bản.

Điều 18, Điều 19 và Điều 20 Thông tư số 25/2011/TT-BTP về kỹ thuật trình bày văn bản của Bộ Tư pháp:
Điều 18: Sử dụng ngôn ngữ trong văn bản
1. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt; từ ngữ được sử dụng phải là từ ngữ phổ thông.
2. Không dùng từ ngữ địa phương, từ ngữ cổ và từ ngữ thông tục; không sử dụng từ ngữ nước ngoài.
Trong trường hợp cần phải sử dụng từ ngữ nước ngoài do không có tiếng Việt thay thế, thì có thể sử dụng trực tiếp tiếng nước ngoài đó nếu là ngôn ngữ thông dụng, phổ biến hoặc phải phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.
Điều 19. Sử dụng từ ngữ đúng chức năng
1. Văn bản phải sử dụng ngôn ngữ viết; cách diễn đạt phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu.
2. Trong văn bản có thuật ngữ chuyên môn cần phải làm rõ nội dung thì thuật ngữ đó phải được giải thích.
3. Từ ngữ viết tắt chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết và phải giảithích nội dung của từ ngữ đó tại lần xuất hiện đầu tiêntrong văn bản.
Đối với văn bản sử dụng nhiều từ viết tắt, cần quy định riêng một điều giải thích toàn bộ các từ viết tắt trong văn bản.
Điều 20. Sử dụng từ ngữ đúng nghĩa
1. Từ ngữ được sử dụng trong văn bản phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt, không làm phát sinh nhiều cách hiểu; trường hợp dùng từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích theo nghĩa được sử dụng trong văn bản.
2. Từ nghi vấn, các biện pháp tu từ không sử dụng trong văn bản.
3. Từ ngữ phải được sử dụng thống nhất trong văn bản.

Căn cứ Quyết định số 240/QĐ của Bộ Giáo dục năm 1984:
Tại mục A, tiểu mục 1.b phần Nguyên tắc chung quy định:
A – NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Đối với những từ tiếng Việt mà hiện nay chuẩn chính tả chưa rõ, nên chọn giải pháp chuẩn hoá theo nguyên tắc chung sau đây:
b) Khi chuẩn chính tả đã được xác định, phải nghiêm túc tuân theo; tuy việc chuẩn hóa và thống nhất phát âm chưa đặt thành yêu cầu cao nhưng cũng nên dựa vào chuẩn chính tả mà phát âm.
Tại mục B. QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
1. Về những từ tiếng Việt mà chuẩn chính tả hiện nay chưa rõ, có thể nhận thấy những trường hợp chủ yếu sau đây, và đối với mỗi trường hợp, nên dùng tiêu chí thích hợp. Cụ thể là:
a) Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xã hội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán).
Thí dụ: chỏng gọng (tuy là chổng gọng theo từ nguyên)
đại bàng (tuy là đại bằng theo từ nguyên)
b) Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định.
Thí dụ: trí mạng (tuy cũng có gặp hình thức phát âm chí mạng)
c) Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen sử dụng nghiêng hẳn về một hình thức.
Thí dụ: eo sèo và eo xèo; hoặc: sứ mạng và sứ mệnh.
Trong khi chờ đợi có từ điển chính tả, tạm dùng cuốn “Từ điển chính tả phổ thông” do Viện văn học xuất bản năm 1963.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định tiếng nói và chữ viết trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.

Luật Kế toán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công chứng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Bưu chính,…đều quy định ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt.

Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định:
Điều 5. Ngôn ngữ, hình thức của điều ước quốc tế
1. Điều ước quốc tế hai bên phải có văn bản bằng tiếng Việt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên ký kết nước ngoài.

Căn cứ Tiêu chuẩn quốc tế hoá tiếng Việt: tiêu chuẩn ISO 639-1 (mã hai chữ cái – vi) và tiêu chuẩn ISO 639-2 (mã ba chữ cái – vie).

Căn cứ Điều 29.3 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009)
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông; duyệt và quyết định chọn sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, bao gồm cả sách giáo khoa bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách giáo khoa cho học sinh trường chuyên biệt, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa;

Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 28, Điều 37, Điều 119 Hiến Pháp năm 2013 về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Căn cứ Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015:
Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

Với tất cả các căn cứ pháp lý nêu trên, mọi công dân có quyền và nghĩa vụ khiếu nại, kiến nghị tới các cơ quan nhà nước về vấn đề bảo vệ chữ viết Tiếng Việt (là ngôn ngữ quốc gia) và bất cứ cá nhân, tổ chức nào có người thân đang là đối tượng của chính sách áp dụng sách Giáo dục công nghệ lớp 1 đều có quyền khởi kiện các cơ sở đào tạo đối với tiếng Việt cải cách này ra Toà án để yêu cầu bồi thường thiệt hại và huỷ bỏ việc áp dụng chương trình này trong hệ thống giáo dục hiện hành (và Bộ Giáo dục và đào tạo là người liên quan trong vụ án).

LS LUÂN LÊ

Âm mưu phá hoại tiếng Việt của nước “lạ” bằng ông giáo sư rất quen Hồ Ngọc Đại?!

Ngày 27/8/2018, báo VietNamNet có bài viết tựa đề: “Bộ Giáo dục đã chấp nhận cách đánh vần “lạ” cho học sinh lớp 1“, của tác giả Thanh Hùng. Câu chuyện xuất phát từ một đoạn clip ghi lại cảnh cô giáo hướng dẫn phụ huynh cách dạy con lớp 1 đánh vần đang hút sự quan tâm của nhiều người với những tranh luận trái chiều vì cho rằng khó hiểu. Clip được cho là do phụ huynh ở Cần Thơ ghi lại.

Cách đánh vần “lạ” cho học sinh lớp 1, các phụ âm c, k, q đều đọc là “cờ”. Trong đó, cô giáo dạy cách đọc một số chữ như “Ki” đọc là: Cờ – i – ki; “Uôn” đọc là: Ua – nờ – uô; “Qua” đọc là: Cờ – oa – qua. Sự dạy “rất lạ” này đã khiến cho cả Giáo sư ngôn ngữ Nguyễn Văn Lợi cũng phải hoang mang khi ông nói với báo Người Đưa Tin ngày 27/8/2018 rằng:

“Năm nay tôi có cháu nội vào học lớp 1, tôi cũng băn khoăn nếu cháu tôi phải học cách đánh vần cải cách như clip. Phần lớn phụ huynh chưa được biết đến chương trình cải cách, chưa hiểu các khái niệm, kiến thức sâu về ngữ âm học. Họ không khỏi lo lắng, hoang mang khi năm học sắp đến con cháu họ – những đứa trẻ vừa mới rời lớp mẫu giáo phải học những kiến thức khó mà đến họ cũng không biết”.

Ngành giáo dục đã trải qua nhiều lần cải cách, trong đó có cải cách liên quan đến tiếng, chữ Việt, nhưng có lẽ lần “cải cách” này hết sức “lạ”. Để tìm hiểu nguyên nhân cái sự “lạ” này, báo VietNamNet đã hỏi ông Nguyễn Đức Hữu, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD-ĐT). Ông Hữu nói rằng:

“’Cái lạ này’ xảy đến bởi các phụ huynh trước đây quen với cách đánh vần như chương trình đại trà hiện hành. Nhưng tài liệu Tiếng Việt 1 theo chương trình Công nghệ Giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại thì đi theo hướng ngữ âm học và bao nhiêu năm nay đã tổ chức, triển khai dạy học như thế rồi chứ không phải năm nay mới có, thực chất không phải cái gì đó mới hay phát hiện mới lạ. Có thể với những phụ huynh thấy lạ tai nên câu chuyện mới xôn xao như vậy, chứ những năm trước đây những trường, địa phương theo chương trình này đã dạy học như vậy mà không có vấn đề gì”.

PGS Bùi Mạnh Hùng, điều phối viên chính Ban Phát triển Chương trình Giáo dục phổ thông mới, từng là Chủ tịch Hội đồng quốc gia thẩm định Tài liệu Tiếng Việt 1 – Công nghệ Giáo dục cho biết: “Tài liệu dạy học tiếng Việt CNGD dù có những tranh cãi nhưng đã giúp học sinh phát triển khá hiệu quả kĩ năng đọc thành tiếng và viết đúng chính tả. Đây cũng chính là những điểm mạnh của tài liệu“.

Rõ ràng là, hai quan chức Bộ GD-ĐT đang lừa bịp phụ huynh và người dân cả nước, chứ thực tế hoàn toàn ngược lại những điều hai ông Bùi Mạnh Hùng, Nguyễn Đức Hữu nói. Người viết đã mất một buổi chiều đi gặp 3 giáo viên dạy lớp 1 ở Quảng Ngãi, để tìm hiểu thực hư, sau khi được một giáo viên quen giới thiệu. Vì lí do cần bảo vệ danh tính của họ, xin được gọi họ là: cô N, cô H, cô. Ba cô giáo này đều giảng dạy lớp 1 “công nghệ” ở huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Trước khi tường thuật lại “tâm sự đắng lòng” của 3 cô giáo, trước hết chúng ta phân tích để thấy sự “lạ” đầu tiên của cách dạy này, đó là tựa sách “Tiếng Việt lớp 1 – Công nghệ giáo dục”. Với kiến thức hạn hẹp, người viết chưa bao giờ thấy một tựa sách học tiếng Anh, Pháp, Nhật mà có từ “công nghệ” bao giờ! Có phụ huynh nào thấy hay biết xin chỉ giùm. Cái tựa sách đã nói lên sự tào lao của nền giáo dục nước nhà, được điều hành bởi người đứng đầu là ông Nguyễn Xuân Nhạ với khả năng không tài nào phát âm đúng được chữ “lờ” và “nờ”, cũng như không thể phát âm được hai từ “từ chức” bao giờ!

Cả ba cô giáo mà người viết gặp, tất cả đều có thâm niên dạy học bậc tiểu học trên 10 năm, trong đó có một cô sắp về hưu. Cả 3 cô đều “khóc ròng” với chương trình này, với những nhận định, chia sẻ sau đây:

– Chương trình “Tiếng Việt công nghệ” (TVCN) này được giáo sư Hồ Ngọc Đại “nghiên cứu, biên soạn” từ năm 1978, nhưng không được chấp nhận để đưa vào giảng dạy. Khoảng vài năm trở lại đây, TVCN lại được mang ra thí nghiệm. Phòng GD-ĐT của tỉnh nào đăng kí dạy “thí nghiệm” chương trình này, sẽ đưa GV đi học bốn ngày cho những GV đứng lớp “thí nghiệm” chính thức, một ngày cho tất cả GV tiểu học thuộc Phòng GD-ĐT huyện đó. GV “đùn đẩy” nhau khi bị phân công dạy “TVCN lớp 1” vì rất vất vả. Nói trắng ra chẳng ai muốn dạy chương trình “quái lạ” này cả.

– Học sinh lớp 1 học TVCN có thể đọc vẹt được, nhưng khi viết thì sai chính tả rất nhiều. Nó “khó” đến mức, nếu hôm nào GV đứng lớp 1 nghỉ dạy, thì buổi học hôm ấy, những GV dạy từ lớp 2 đến lớp 5 không thể dạy thế được, chỉ nhờ coi lớp giúp hết buổi rồi cho về. Còn Phòng GD-ĐT “mắt nhắm mắt mở, bật đèn xanh” cho GV dạy lớp 1 ăn gian tiết của môn học khác để dạy môn “TVCN” này. Ví dụ: buổi học có 5 tiết (một tiết 35 phút), trong đó 2 tiết TVCN, 1 tiết Đạo đức, 2 tiết Tập làm toán, thì thời gian học tiết Đạo đức sẽ được dạy luôn TVCN, môn Đạo đức chỉ dạy thoáng qua mà thôi.

– Đồng thời, như trên đã nói, ngay cả những GV dạy từ lớp 2 trở lên còn không dạy thế được nếu GV lớp 1, thì phụ huynh không thể nào tài giỏi để dạy cho học sinh ở nhà được. Từ đây, phát sinh việc, lớp 1 mà phải đi học thêm, học thêm cả trước khi vào lớp 1 luôn. Phụ huynh nào nghèo, đồng nghĩa với việc con họ chẳng viết ra chữ, đọc chẳng ra câu. Nghịch lí ở chỗ, khi dạy thêm trước khi vào lớp 1, GV lại dạy cách đánh vần theo phương pháp truyền thống. Ví dụ: từ “Ki Cóp” sẽ đánh vần “Ka I Ki”, “Cê O Co O Phê Óp” là “Cóp”!

– Những từ khó như từ “nghiêng nghiêng”, “bút nghiên”, “khuyếch tán”, “khuya khoắt”,… cả cô trò đều “ngọng nghịu” cùng nhau khi dạy và học, rất giống ông Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Xong lớp 1, lên lớp 2, nếu học sinh nào chưa đọc, viết được thì lại “bị” dạy “đọc, viết” theo phương pháp truyền thống. Tréo cẳng ngỗng!

GS Hồ Ngọc Đại cho biết, cách đánh vần “lạ” theo bộ sách Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ Giáo dục “đến nay đã được triển khai ở 49 tỉnh với hơn 800.000 học sinh theo học chương trình này“. Cũng cần phải nói thêm, GS Hồ Ngọc Đại chính là con rể của TBT Lê Duẩn. Lê Duẩn là người có câu nói nổi tiếng: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại…”.

Trên đây chỉ là bốn bất cập trong những bất cập từ tâm sự của các giáo viên mà người viết được nghe chính họ nói ra. Tất cả đều có mong muốn làm sao bỏ cái chương trình “quái lạ này” là tốt nhất, họ chỉ mong phụ huynh đồng lòng lên tiếng, vì họ có ý kiến với lãnh đạo giáo dục cũng không thể được, chưa nói có thể mất luôn nồi cơm! Họ nói rằng, Bộ GD-ĐT và GS Hồ Ngọc Đại “đang hủy hoại một hệ thống học tiếng Việt có thể nói đã hoàn chỉnh lâu nay!”

Và người viết cũng tìm hiểu thêm, ở ngoài Bắc, miền Tây Nam Bộ, hay miền Trung, thì học sinh lớp 1 được đem ra làm “chuột bạch”, lại toàn ở những tỉnh lẻ, những huyện ven biển, trung du miền núi, hay vùng sâu, vùng xa.

Phải chăng đây là một “âm mưu”, bởi ở những vùng sâu, vùng xa, phụ huynh sẽ ít phẫn nộ, dư luận cũng không quan tâm nhiều với cái tiếng “lạ” mà con em họ được dạy, nên Bộ Giáo dục mang ra thí điểm, sau đó đặt mọi người vào chuyện đã rồi?! Điều này có thể thấy rất rõ, khi cách dạy “lạ” được mang ra thí điểm ở TP. Cần Thơ, phụ huynh đã quay clip lại, đã bị dư luận cả nước nói chung, phụ huynh học sinh nói riêng, lập tức phản đối.

Cố Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đã từng nói: “Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. Bệnh nhân chết dưới bàn tay của các bác sĩ của nền giáo dục đấy. Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay của các kỹ sư của nền giáo dục đấy. Tiền bị mất trong tay của các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục đấy. Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục đấy. Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia“.

Nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn, cụ Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt thay cho chữ Nho và tiếng Pháp. Chúng ta chưa mất nước, nhưng tiếng Việt đã, đang và sẽ mất nếu Bộ Giáo dục đã chấp nhận cách đánh vần “lạ” cho học sinh lớp 1. Mà theo nhận định của cụ Phạm Quỳnh, chúng ta có thể hiểu rằng: nước chúng ta cũng sắp mất đến nơi rồi!

Nếu chúng ta vẫn im lặng, để cho những con người “ngọng nghịu cả tư duy và phát âm” ấy tiếp tục đem con cái chúng ta ra làm “chuột bạch”, thì con cái chúng ta sẽ chết, và chắc chắn quốc gia này cũng chết! Bởi, trẻ em hôm nay là đất nước ngày mai!

© Copyright Tiếng Dân