Ông Diệm lựa mua đồ sứ cổ

0
556

ÔNG DIỆM LỰA MUA ĐỒ SỨ CỔ

Ngày 15/1/1963 (ngày 20 tháng chạp Nhâm Dần – Âm lịch). Vào lúc 8 giờ sáng, tôi đang làm việc trong văn phòng Viện Bảo tàng thì có chuông điện thoại reo. Nơi đầu dây, ông Giá, chủ sự Phòng vật liệu phủ Tổng thống gọi tôi và mời lên trên đó để giảo nghiệm một mớ đò cổ sứ. Khi tôi giáp mặt thì ông nói Tổng thống muốn biết ý kiến của tôi về những cổ vật do Tổng thống đã lựa nơi phòng triển lãm báo chí đô thành và do 2 nhà buôn Chánh và Trọng chưng bày từ 16/12/1962 đến 12/1/1963 và hiện đã đem về để tạm nơi từng dưới trong phủ. Ông Giá liền liền đó đưa tôi vào phòng xem, khi về sở là hết trọn buổi sáng.

Qua buổi chiều, đồng hồ chỉ 15 giờ thì có tiếng điện thoại gọi nữa. Chuyến nầy, tôi lên phủ Tổng thống lần thứ hai trong một ngày, gặp lại ông Giá ông đưa tôi giới thiệu với chánh văn phòng là ông Hải. Tôi được hai người dắt tôi lên phòng tiếp khách rằng hãy chờ khi nào Tổng thống rảnh việc, sẽ cho vào yết kiến. Phòng này rất rộng, nguyên là phòng họp của Hội đồng tư vấn (conseil privé) của trào Pháp cũ, và với tôi không lạ vì trước kia tôi từng làm việc nơi tòa lâu đài nầy, thuở ông Rivoal làm Thống đốc Nam Kì. Tôi ngồi chưa nóng ghế, thì thấy một người sĩ quan bưng ra để trước mặt tôi một mâm gỗ. trên mâm có bày một hộp thuốc lá 555 vừa khui (vừa mở), chưa dùng điếu nào, kế bên có sẵn một hộp diêm quẹt cũng mới, thêm có môt tách trà thơm bốc khói ngát và một tách cà phê sữa xem ngon mắt lắm. Vị sĩ quan ấy cúi đầu mới tôi “Xin cứ tự tiện” rồi lui ra bỏ tôi bơ vơ với bao nhiêu món cám dỗ ấy. Tôi làm cao không động rớ món nào, ngực thì nhảy thình thịch, mắt vẫn liếc, nhìn từ cái bàn cái ghế sang trọng đến màu sơn trên vách, quả không thấy thay đổi nhiều sau cuộc đảo chánh vừa rồi năm 1945.

Quả thật không có chi nặng lòng bằng sự chờ đợi. Tôi khó chịu vì ngồi đã lâu mà không ai đến nói mình, trong khi ấy tôi cố nhìn những vật trước mắt đã biến thành cố tri, từ cây đinh cũ nơi chưn bàn, và thấy tiếc tiếc cho tách cà phê, cho tách trà, ở nhà mình không có để uống, mà ở đây đành để cho nguội không người dùng, thiệt là phí phạm. Đôi giày vẹt-ni đen mới; tôi lấy ra “khai trương” bữa nay nhơn dịp ra mắt Tổng thống đã bắt đầu làm tê tê mấy đầu ngón chân, nay khởi sự ngứa rần rần mà ở đây là chốn tôn nghiêm làm sao cởi giày ra để gãi cho sướng! Chờ mãi đến mười tám giờ, ngồi nhớ tiếc cái cảnh làm việc ở Viện bảo tàng, tuy ăn lương ít, nhưng cũng “làm vua một cõi” và cũng ham chút bã vinh hoa ấy mà nay bị hành phạt như vầy.

Bỗng ông Giá mở cửa phòng bước vô nói năm điều bảy chuyện, cho hay Tổng thống quá bận khách có lẽ không tiếp được, thôi thì hãy về nhà và dặn kỹ đêm nay đừng đi đâu, hãy túc trực sẵn, phòng hờ Tổng thống rảnh sẽ cho xe đến rước! Nghe mà chết được trong lòng, không lẽ kêu mình ban đêm để ngủ chung? Huống hồ gì, đêm nay lại được lần thứ nhứt, vợ mua vé tặng xem cải lương gánh Năm Châu, diễn tại rạp Thống Nhứt tuồng “Tây Thi gái nước Việt” mà mình ao ước muốn xem diễn lại. Thôi thì trối kệ, cứ đi xem hát cái đã, rủi mất chức thì cũng đành, chứ không lý bỏ vé vợ mua sẵn để bận đồ lớn ngồi chờ xe Tổng thống. Tuy vậy, ngồi xem diễn tuồng mà lòng đã mất hứng, lát lát liếc ngó chừng phía cửa rạp, chỉ sợ có lịnh đòi. Nhớ buổi chiều tài xế trên phủ lái xe đưa về, nay thấy ai bước vào bận áo bâu cứng tưởng đó là tài xế Hiệp. Vãn hát về, không ngủ được vì vẫn hồi hộp.

Vào ngày 16/1/1963 – Buổi sáng đi làm, vô sự. Buổi chiều vững bụng, nên ăn quen vẫn mặc bộ đồ “xường xám” cho gọn. Dè đâu vừa vô sở, thì điện thoại gọi… Lật đật đạp xe về nhà, (lúc ấy nhà ở Vườn Dâu bộ Canh nông, đường Hồng Thập Tự) hối hả thay bộ đồ lớn, trở lại Viện bảo tàng thì vừa kịp có xe lại rước đưa lên phủ. Phen nầy, trong lúc ngồi chờ, ông Giá đưa một xấp giấy trắng và mời viết vào đó những ý kiến của mình đối với từng món cổ vật bày trong phòng mật viện cũ. Viết thẳng thét trong hai tiếng đồng hồ, được bảy trang chữ bút atomic xanh. Thấy thấm mệt, nên tự thưởng tách cà phê sữa ngon lành và nốc luôn một tách nước trà. Không làm kiêu nữa, và dại gì của sẵn không dùng! Đúng mười tám giờ, có xe đưa về, không quên dặn đừng ra cửa, e có lịnh đòi, nhưng trọn đêm vô sự, ngủ bằng an.

Ngày 17/1/1963 – Nghe theo lời ông Giá dặn hôm qua, nên sáng nầy vận đại phục vô sở, ngồi chờ tới trưa không việc gì. Buổi chiều có giờ dạy nơi Đại học Văn khoa, vừa dạy từ mười bốn giờ rưởi, đang ngon trớn, kế có lịnh đòi. Lật đật từ giã sinh viên xách cặp bước mau qua phủ, cũng may ở gần cùng một khu. Chưn đi bươn bả theo ngõ tắt, lính kêu mặc lính, vừa đến kịp gặp ông Giá, ông đưa qua phủ, đến ngay phủ nơi phòng có chưng bày cổ vật, chưa kịp mở cửa vào phòng thì có điện thoại gọi giựt dội từ trên lầu ra chỉ thị xuống, dạy ông Giá phải đưa tôi thẳng lên từng thượng, để yết kiến Tổng thống, vì ông vừa rảnh tay và hiện chờ tôi tại văn phòng của người. Xin nhắc lại, dinh Gia Long, nay Tổng thống lấy đó làm phủ từ ngày ở “điện Toàn quyền cũ” về đây, nguyên là dinh cũ Phó Soái Nam Kì, và từ năm 1935 đến 1942, tôi từng làm việc ở đây, nên vốn không xa lạ đối với tôi. Chân tôi bước theo bén gót ông Giá, mỗi lần gót giày nên mạnh lên thang gỗ, lòng thấy nao nao nhớ lại buổi thanh xuân còn ghi dấu đâu đây. Lên đến từng lầu trên, thì phong cảnh dấu vết cũ không thay đổi chi nhiều, nên gạch bông vẫn bóng láng như xưa, duy trên vách gạch, tấm tranh sơn dầu “cảnh vẽ cột cờ thủ ngữ và cầu tàu tán dóc” (Pháp gọi “pointe des blagueurs”) vì có tách cách thực dân, nên đã bôi mất dấu, cũng như cảnh vẽ “vườn cao su” nơi sau chỗ ngồi của hai ông Rivoal và Weber độ nào, nay cũng bị tẩy đi cho sạch vết tích chế độ Pháp cũ. Bức vách nầy, như các bức vách khác, nay sơn dầu một màu vàng trứng gà, xem vừa sạch vừa nhã và trang trọng tinh khiết hơn xưa.

Tôi bước tới trước cửa văn phòng, dòm vô trong thấy ông Ngô Đình Diệm, mặc bộ u-oe túc xo, ngồi chễm chệ trong một chiếc ghế bành bọc da thật lớn và mới toanh, hai tay ông đặt ngay thẳng trên chỗ dựa y như một tượng gỗ, còn hai mắt ông thì ngó thẳng vào cửa chỗ tôi đang đứng. Tôi thủ lễ, đứng thẳng người, đầu cúi miệng thưa lễ phép “kính chào Tổng thống”. Ông gật đầu, xem bộ hiền lành, tôi nghe ông thốt hai tiếng “mời ngồi” mà không nghe rõ mời ai, cụ, ông hay là mầy. Tôi lúc ấy vẫn đứng, y như điệu chàng rể tiếp xúc lần đầu tiên với nhà gái. Kế tôi nghe ông ban thêm ba tiếng “ngồi đi mà!” nghe êm ái hơn hai tiếng “mời ngồi” ban nãy. Rồi tôi bước tới, đặt bàn tọa vào ghế, nhưng chỉ ngồi ghé nơi bìa cạnh, y một kiểu với cách mấy chục năm xưa tôi ra mắt nhạc gia tôi khi đi xem mắt vợ. Cái ghế của tôi ngồi, vẫn đặt mé bên tả của ghế ông và vẫn giống y cái ghế đặt bên hữu, hai ghế nầy thảy đều cũ kỹ, đã “xập kỷ nình” (cũ thập dư niên); vì tôi ngồi ghé nên thấy dường như ngồi trên khúc củi, vừa ê vừa thốn, thật không êm ái đỡ mỏi chút nào. Tôi vừa an tọa, kế có điện thoại reo, Tổng thống vói tay chụp ống nghe, và trong khi ông bận lo trả lời, tôi thừa dịp lấy mắt quan sát kỹ vuông phòng nầy mà những năm xưa kia, vào dịp đầu xuân hay khánh hạ, tôi đã từng ra vào. Tôi thấy trong phòng, những đồ tư khí cũ thời Pháp, hoặc đã di chuyển một nơi khác, hoặc đã biến mất từ năm đảo chánh 1945, hoặc vì ngày nay không vừa ý nên đã dời chỗ nào tôi chưa biết, tức là không mất.

Tóm lại những lời đã nghe có sự mất mát nơi nầy, chỉ là lời đồn đãi thất thiệt. Tôi chú ý nhất là cái ghế bành của Tổng thống ngồi, bọc da màu vàng, xám nâu (beige) xem bề thế và rất mềm mại, rất êm ái. Đây là chỗ ông ngồi làm việc thường ngày, vừa khỏe lưng trong lúc tỷ như duyệt khán công văn, và cũng tiện lợi vì có thể nằm nghỉ lưng đỡ mỏi trong chốc lát.

Kế bên chiếc ghế bành nầy, nơi mé tay mặt, có đặt một hộp lớn làm bằng gỗ trắng đánh vẹt-ni, trong chứa đựng cả xấp hồ sơ và công văn đang nghiên cứu hay còn xem xét. Hộp gỗ nầy có gắn một hàng nút điện sành trắng và nhỏ bằng cỡ đầu ngón tay út khi Tổng thống bấm vào là để gọi từng bộ hạ cộng tác, khi gọi ông chánh văn phòng hay chánh võ phòng, hoặc bí thơ hay tùy giá quan… khỏi nhọc công sai người đi mời. Trước mặt ghế ông ngồi và đôi bên tả hữu của chiếc ghế nầy, như đã có nói rồi, là hai chiếc ghế da đỏ đã phai màu, góc cạnh đã sù sì vì đã quá thâm niên, qua tuổi lưu dụng. Một chiếc tôi đang ngồi, và vì không dám ngồi ngay giữa ghế nên không rõ bộ lò-xo có còn êm ái không, duy chiếc để trước mặt tôi, vốn là một cặp với chiếc kia, không nữa cũng đồng niên đồng tuế năm mua năm sắm, hai chiếc dành cho khách ngồi nầy, tại sao quá khác biệt với chiếc của Tổng thống ngồi, chiếc ghế của chủ thì vừa đẹp vừa êm, thêm vừa mới, còn hai chiếc nọ lại cũ kỹ và hư tệ đến thế. Xem ghé biết tánh chủ nhà, cực chẳng đã ông mới dám xài chớ bình sanh để làm theo ý ông, thì ông là người hà tiện nhứt trên đời, vì tiếng còn để lại, gia đình ông thuở ông Khả còn sanh tiền, thì đất Huế còn nhắc danh nhà nầy lấy tôn chỉ là “tề gia chi bổn thượng sách”.

Có một chiếc ghé khác, kiểu “xích đu”, loại Rocking chair hiệt Thonet thứ thiệt, thì chắc là không mấy năng dùng, nên tôi thấy trên mặt ghế chồng chất một đống hồ sơ cao nghệu, thấy mà ngán. Xem kỹ lại đâu đâu cũng thấy toàn là hồ sơ, cái bìa xanh cái lại bìa đỏ, trước mặt Tổng thống, hai bên Tổng thống, bên vách tả cũng có một hàng dài dài , trừ bên vách hữu, thấy một dãy ba chiếc tủ gỗ to tướng, choán gần trọn mặt vách trên sáu thước chiều dài, những tủ này do trào Pháp cón sót lại, mặt gỗ liền màu đỏ kiếng gián làm bằng gỗ danh mộc đắt tiền. Trong tủ không biết có chứa đựng giấy má hồ sơ tối mật chi không, nhưng độ chừng ông Tổng thống là một thầy tu lỡ mùa, thuở quen sống độc thân, cho nên y phục tế nhuyển vật cần thiết của người, người đều dồn hết vào đây, là một văn phòng mà cũng như một tư phòng  bất khả xâm phạm, và bấy lâu vì thiếu bàn tay bà nội tướng, nên tha hồ người để bừa bãi, thậm chí tôi liếc thấy chiếc gậy tùy thân ông thường cầm trên tay mỗi khi đi kinh lý “làng chiến lược” và chiếc nón nỉ lịch sử ông thường đội đầu, nay cũng ngự chễm chệ, nón thì đặt trên một hồ sơ một nơi nầy, gậy thì dựng nơi kẹt một góc nọ, mãi xa mút sau chót ba chiếc tủ gõ kia. Trong khi Tổng thống bận mãi trả lời điện thoại, tôi chợt đưa mắt lên đầu chiếc tủ giữa bỗng thấy một khuôn hình lớn vẽ dầu màu, họa chơn dung cụ cố Ngô Đình Khả, mặc sắc phục võ tướng, hai tay giụm lại đứng chống gươm rất oai nghi, nhưng cớ sao trong mắt tôi lúc ấy lại thấy dường như bơ vơ trơ trọi trên đầu loại tủ đựng áo quần, mawsj bằng gỗ liền nầy.

Trong bụng tôi suy nghĩ bâng quơ: Hỡi trời! Đã tột bực đỉnh chung, lên ngồi trên cả thiên hạ, thế mà tìm không được một chỗ thờ cha? cho xứng đáng. Hãy chừa cho bọn thơ ký nghèo như chúng tôi thờ cách ấy! Nếu ông là người công giáo thuần túy, không nhìn nhận sự thờ phượng ông bà, không muốn bắt chước bọn bên lương lập bàn thờ thờ cúng tổ tiên, thì cứ việc “làm theo Tây u”, tốn một cây đinh đóng lên vách như treo hình đức Chúa hay hình ký kiểu La Joconde chẳng hạn, bằng không nữa thì thà đừng thờ, và chỉ “tâm thờ”, thờ trong lòng, trong tư tâm cũng được đi, chứ thờ làm chi trên đầu tủ, bọn tiểu công chức nhà như ổ chuột, trong nhà chỉ có cái tủ áo là cao, cũng không đành thờ cha mẹ ông bà như thế. Đang trí còn nghĩ ngợi viển vong, thoạt nghe Tổng thống đặt máy nói vào móc, tôi vừa day lại thì nghe ông nói chậm rãi nửa thân nửa chí tình: “Cách nay mấy mươi năm, tôi cũng từng làm một nghề tương tợ như nghề ông (tiếng ông gọi tôi lần thứ nhứt), nhưng không phải nơi chốn nầy đâu!”

  • Dạ thưa Tổng thống, tôi thầm phục và thầm khen ông khéo lựa mấy lời quá êm cởi mở, dạ thưa Tổng thống, tôi đã từng đọc bài nghiên cứu của Tổng Thống viết về chiếc nghiên mực “Tức mặc hầu” đăng năm xưa trong tạp san Đô Thành hiếu cổ.
  • Ờ! phải đấy. Bài ấy tôi viết đã lâu lắm tồi. Có đọc hỉ.

Nói đến đó rồi ông chăm chỉ lật lật xấp bản thảo tôi đã viết, vừa đọc vừa hỏi trống lỗng: – Chữ ai viết mấy trang nầy vậy?

  • Dạ, chữ cụ Sển viết, ông Giá khoanh tay đứng gần tôi trả lời.
  • Già mà chữ viết còn hay hỉ! Tổng thống ngó tôi mà khen.
  • Tôi cúi đầu nói nhỏ câu “Tôi không dám!” nhưng trong bụng, tật cũ không chừa, vẫn cãi: Trong Nam, chúng tôi nói chữ viết “cứng”! Viết hay là khác!

Rồi lại nghe Tổng thống hỏi tiếp: – Hiệu “Ngoạn Ngọc” dung được chớ hỉ?

  • Dạ thưa, Ngoạn Ngọc là quí, là cổ lắm vậy.
  • Ờ! Ờ! Xưa tại nhà, có khá nhiều đồ hiệu Ngoạn Ngọc.
  • Dạ thưa, tôi bắt trớn nói tiếp. Đồ cổ đề hiệu Ngoạn Ngọc là nên dùng lắm. Người châu Âu, châu Mỹ, rất chuộng, và gọi theo Pháp là “Bibelot de jade”. Dạ, nhưng nó chưa quí bằng đồ kiểu ký hiệu chữ “Nhựt”.
  • Vì vậy sao? Tổng thống hỏi.
  • Dạ, theo tôi hiểu, thưa Tổng thống. Hiệu “Nhựt” là đồ sứ “Quân dụng”, chế tạo riêng cho quân vương dung, khác với Ngoạn Ngọc là hiệu thường, ký trên đồ sành sứ từ nhà quan quyền đến nhà lê thứ đều dung được cả, tức cũng như đồ thông thường “quan dụng”, “dân dụng”.

Nói đến đây, tôi nhìn trộm, thấy mặt Tổng thống vui lên, cười cười rồi vói tay bắm một nút chi nhỏ gần nơi hộp gỗ đã tả, tức thì hiện ra một tùy giá quan mặc bộ quân phục bén ngót, vừa mở cửa vào, vừa chào vừa đứng thẳng nhìn.

  • Cho ở dưới lầu hay tôi xuống xem các vật vừa sắm đó.

Ông Tổng thống đứng dậy, tôi cũng lật đật đứng theo. Tôi bước trái qua một bên, nhường chỗ cho ông bước ra khỏi ghế, rồi chờ ông bước được vài bước, tôi khi ấy mới nới gót theo sau. Bỗng cửa phòng mở toác, tôi giựt mình khi thấy ngoài cửa có hai ông cao cấp quen mặt, tay ôm hồ sơ chực sẵn từ lúc nào, đầu cúi ngó mũi giày, áo gài nút kín, mỗi ông đứng một bên cửa, không khác ông Thiện và ông Ác vẽ trên cửa chùa, nói làm vậy chớ vẫn mong hai ông đều hiền và không có ông nào xứng danh là ông Ác. Một ông, bấy lâu tôi nghe tiếng đồn là thanh liêm “tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, nhưng nay thấy tận mắt vì ông có xương sống gắn bản lề khá dẻo cho nên người ta mới còn dùng đến nay, trong bụng thầm tiếc một người có Đức như ông, nấm nuối làm chi chốn này, ham quyền chức e có ngày vướng bùn mất chữ thanh cao, hay là cũng vì ông trót lựa chữ lót là “Tòng” (Quách Tòng Đức). Ông kia gặp tôi một lần trong một buổi đi nghe diễn thuyết, nay cũng không nhớ tên, khi tôi đi ngang chỗ ông đứng, tôi ễnh ngực, nện mạnh gót giày, ý chừng muốn cho ông thấy tên ăn lương công nhựt này, cũng có lúc đi gần chủ của ông để được ông cúi chào, sướng quá. Buổi ấy, Tổng thống dẫn đầu đi trước, thứ đến là tôi, kế nữa là một cận vệ quan, và sau rốt là ông Giá, chức coi về từ khí thập vật trong phủ, Pháp gọi “garde-meuble du palais”, tạm dịch nội phủ quan, chứ không lý dùng chữ “nội dịch” nghe tệ quá.

Xuống tới phòng tạm chưng đồ sứ, một phòng rộng lớn thênh thang thuộc mé hữu của tòa lâu đài nầy, tôi thấy các cổ vật, cổ ngoạn đã được dọn bày sẵn làm ba hàng dài: chóe sành, bầu hồ lô, tô kiểu, bình phong nạm ngọc, vân vân, đủ thứ, nhưng thứ thật tốt thật đẹp và cổ thì ít, thứ xoàng xoàng không xưa không nay thì nhiều, theo ý riêng tôi, sở dĩ họ đem đến đây, cốt bán cho được nhiều tiền, kiếm đồng lãi và không sợ bình luận mai sau. Gẫm nay nguy hiểm thay cho cái nghề “chuyên viên khảo về cổ vật” như mình, có tiếng mà không có miếng, nay đòi đến đây để giảo nghiệm, nhưng xét ra từ ông Tổng thống cho đến mình, còn cách xa biết bao nhiêu độ, mấy lời mình trực ngôn còn bị nhiều ý kiến hay tay ngang của các “cục cưng giỏi sàm tấu” xuyên tạc, không khéo “chơi dao có ngày đứt tay”, mình nói trắng, họ thay đen, mình nói “nay” họ “đổi ra xưa”, – mình sẽ bị “bán đứng”, bị lợi dụng, bị mang tai tiếng, từ đó đi đến sự “ủ tờ” cũng chưa chắc biết chừng. Ôi! Cái nghề làm quản thủ viện bảo tàng ăn lương công nhựt!

Trong buổi ấy, tôi theo sát bên lưng Tổng thống. Ông xem xét từng món, ông hỏi tôi về món nào, tôi cố đem hết sức bình sanh tìm lời giải thích cặn kẽ về gốc tích, điển cố nào tôi biết được. Đi xem giây lát, định chừng ông hài lòng về mấy lời tôi cắt nghĩa, nên ông “nói chuyện” quên thôi, và lần lần nói giọng rất thân mật, và cố nhiên bầu không khí trong phòng trẻo nên nhẹ nhàng dễ chịu. Ông Giá lấy mắt nháy lén tôi, hình như muốn nói: “Được lắm! Tiếp như vậy hoài đi!” Mỗi lần tôi cố ý nói giậm nói chêm. Một đôi chỗ cho thêm vui câu chuyện, tôi lén nhìn thấy hai môi ông Tổng thống như muốn cười nhưng còn giữ bộ nghiêm. Và khỏi nói khi thấy được cởi mở, mấy ông tùy giá lúc ấy cũng tiếp sức tôi vài câu đúng lúc cho không khí được “dễ thở” thêm. Tỷ dụ như khi đứng trước một cái tô có đề thi nôm, tôi quên lửng hiện mình đang giỡn với lửa, và tôi bỗng đọc vanh vách đủ giọng phủ trầm.

  • Bộ biết chữ Nho khá lắm hả? Tổng thống cắt ngang và hỏi tôi như vậy.
  • Dạ, thưa Tổng thống, đó là tôi thuộc lòng vì quá quen mặt với tô nầy, chớ về chữ Nho, tôi vẫn dốt, vì cha tôi không cho tôi học chữ ấy từ lúc nhỏ.

Qua khỏi truông vấn nạn nầy, tôi lại tiếp tục nối gót theo ông Tổng thống. Bỗng đi đến trước một bộ chén trà cổ. Ông vói cầm lên một cái chén “quan” và nói: “Đây chữ gì? Tôi không đọc được?”.

Nghe vậy tôi tiếp cầm cái chén, vụt đọc lớn: “Tuyên Hóa”.

Ông Tổng thống chận tôi lại, cười và nói: “Đó, đọc được chữ Nho đó!”

Hồn bất phụ thể, tôi vội nói chữa lời: “Dạ! Cái chén này, thưa Tổng thống, nó là chén giả hiệu. Vì chữ viết nhòe nên Tổng thống không đọc được. Tôi quá quen và đã từng thấy nhiều bộ cổ hơn và chánh hiệu, nên mấy chữ này dễ nhìn, dễ đọc ra. Vả lại vua đời Minh có hiệu Tuyên Đức và hiệu Thành Hóa mà thôi. Nay chén này xưng “Tuyên hóa” không có trong niên hiệu nhà Minh, cho nên tôi gọi là giả hiệu. Họ lấy chữ Tuyên trong Tuyên Đức và chữ Hóa trong Thành Hóa, hai chữ dễ đọc. Tổng thống gật đầu bước qua dãy khác, và tôi thoát nạn. Hú hồn!

Đi được giáp phòng một vòng tròn, đại khái đi đến đâu tôi đều trả lời suôn sẻ, đọ chừng nãy giờ Tổng thống bằng lòng lắm. Kế đó bắt qua xem mấy bức bình phong sơn mài có nạm ngọc quí, trên treo vách. Đến đây tôi có dịp dò xét ý ông. Quả ông là người có bản lĩnh, đừng khinh ông mà lầm. Ông là người tự làm lấy mình, vốn ít nghe lời ai mà cũng không muốn nghe lời ai khuyến biểu. Sở dĩ sau này việc đa đoan và bọn gian thần sanh ra quá nhiều và thời đã hết nên phải hư việc. Như hôm nay, ông đang đứng trước một bức bình phong có nạm ngọc này. Đó là một bộ tranh sáu bức, dài và hẹp, cỡ 2thx0,50, cả thảy sáu tấm ráp lại bằng nhiều bản lề, nền tranh là gỗ thông sơn mài màu đen, trên nền sơn, cẩn đủ thứ ngọc quí giá, từ ngọc vân thạch, đến nhiều thứ quí hơn nữa. – Tranh ngọc này Tổng thống nói, tại sao lặp đi lặp lại có một kiểu trông nhàm quá. – Thưa, tuy vậy mà nay không làm được nữa. Ông Hải nói như vậy và tiếp: Nếu nhà Thành Lễ làm như vầy được, không biết sẽ tính đến giá nào!

Câu nói là câu có ý tán thành, ý định muốn giúp cho tấm bình phong được Tổng thống chấm mua, không dè đã làm Tổng thống nổi cơn thịnh nộ bất ngờ, như trời không kéo mây bỗng vụt mưa ồ. Ông day lại, nói rất lẹ: Mà ai mua làm chi của nhà Thành Lễ. So sánh làm cho chi của xưa và vật nay. Bức tranh này, vừa nói ông vừa chỉ, giá sáu chục nghìn (60.000 đồng) kia mà!

  • Dạ, hai trăm sáu chục nghìn chứ (260.000 đồng). Ông bí thơ Hải cải chính.
  • Ôi cha! Tôi không mua với giá đó đâu! Ông Tổng thống đáp và bước te te đi một nước, làm cho chúng tôi phải bước lẹ mới theo kịp. Rồi liền đó, ông hạ giọng, day lại tôi và chậm rãi nói: “Với những giá biên ra đây, tôi định sẽ giảm bớt đồng đều hoặc 25 hoặc 30 phần trăm. Nghĩ sao? Nếu họ không bằng lòng bán thì không mua.
  • Dạ thưa Tổng thống, nếu cho phép tôi đưa ý kiến. Tôi chuyên xem kỹ về vấn đề tốt hay xấu, giả hay thật, cổ hay không cổ còn về giá cả, tưởng tôi không quyền định đoạt.
  • Thôi được! Ông Tổng thống nói. Rồi ông bắt qua chuyện khác. Kế ông lại hỏi:
  • Đây họ đề “ambre”.“ambre” là gì?
  • Dạ thưa Tổng thống, “ambre” là hổ phách.
  • Ủa! Lạ này! Tổng thống nói, Ambre, không phải là chất nọ tiết ra bởi loài cá ở biển kia sao?
  • Thưa Tổng thống tôi đáp. Nếu ambre gris thì đó là chất vôi hay là tinh của loài cá “cachalot”, thường thấy trôi cả giề trên mặt biển và người đánh cá vớt lên đem phơi khô, cân bán với giá rất mắc, gọi là “long diên hương”. Dạ, còn “ambre” này là ngọc hổ phách, vốn là mủ, nhựa cây thông bên Tàu, được trên ngàn tuổi, biến thành. Dạ thưa, mủ thông, ta gọi là “tòng hương”, Pháp gọi “résine des conif ères”. Tòng hương, ta dùng thoa dây kéo đàn, cũng giống như colophane của Pháp. Và khi nào “tòng hương” để lâu được trăm năm, sẽ biến thành “phục linh” một vị thuốc Bắc và nếu “tòng hương” ở dưới đất trên ngàn năm, sẽ biến thành hổ phách, như vầy đó. Đó là tôi đọc theo sách tàu dịch ra, chứ đúng không thì tôi không rõ.

Buổi đặc biệt tôi được tiếp xúc với ông Ngô Đình Diệm, đến đây là chấm dứt. Và đây là lần thứ nhì ông cho tôi yết kiến. Tên tôi, viết theo Tàu có lẽ ông không ưa, vì bình sanh ông chỉ thích những người có tên tốt. Cũng vì tên không tốt, nghe không thanh và quá “chệc”, nên ông hành tội bắt chầu hầu suốt mấy hôm liền mới cho ra mắt. Ông đã hiểu lầm và có lẽ hôm nay ông mới biết tôi hơn chăng?

Nhắc lại, sau khi tôi trả lời đầy đủ như học trò trả bài cho thầy, ông Tổng thống gật đầu, quay lưng lại, và vừa đi vừa nói: “Thôi được! Mời ông lên lầu dùng trà”.

  • Đội ơn Tổng thống, tôi đáp. Nhưng tôi không dám làm mất thì giờ quí báu của Tổng thống. Xin cho tôi về.

Ông gật đầu, bước thẳng lên thang. Tôi vừa mừng thoát nạn, bỗng ông chánh văn phòng Võ Văn Hải đến gần khều tôi và nói:

  • Sau cụ không nhận lời Tổng thống mời, ngàn năm một thuở mà!
  • Thưa ông, tôi đáp lẹ. Cũng biết vậy đó chứ, nhưng ông nghĩ lại: phàm một tên học trò đi thi, một khi ứng đáp được trôi chảy, kế chắc có hy vọng thi đậu, là đủ mừng. Há tham làm tàng và đèo bòng, chạy theo chủ khảo, ông chất vấn them, rủi bí là bao nhiêu công khó cũng trôi dòng nước, chẳng là uổng công tu luyện hay sao?

Ông Hải cười và nói: – Cụ là người cao kiến.

Giờ ông bước vào phủ Tổng thống, nhớ lại là mười lăm giờ chiều. Nay bước chân ra khỏi nhà, là đồng hồ đã điểm mười bảy giờ bốn mươi phút. Thế là tôi được hầu ông Tổng thống ngót hai giờ bốn mươi phút. Khi bước vô, lòng nặng như núi đè. Nay bước ra, lòng nhẹ như được đầu thai kiếp mới.

Vài hôm sau, tôi nhận được bức công văn, xin chép y để làm kỷ niệm:

Việt Nam Cộng Hòa                                                  Sài Gòn, ngày 18 tháng 1 năm 1964
Tổng thống phủ Văn phòng                                       Đổng lý Văn phòng Phủ Tổng thống
Số 62-TTP/ĐL                      

Kính gửi:   Ông Bộ trưởng Quốc Gia Giáo Dục Sài Gòn

Thưa ông Bộ Trưởng,

Văn phòng tôi trân trọng kính chuyển quý Bộ, chỉ thị sau đay của Tổng thống: “Có nhiều đồ cổ cần mua cho Viện Bảo tàng, xin ngân khoản mà mua thì có khó khăn, cho nên xin phép ông Quản thủ Viện Bảo tàng là người rành rỏi và viết khá nhiều về đồ cổ, khi nào có gặp đồ cổ thì ông ấy có thể trình gấp, vì theo thủ tục giấy tờ mấy ngày giờ, trễ kẻo kẻ khác đã mua rồi.

Nếu thiếu ngân sách, thì trình lên Thượng cấp để xin ngân khoản đặc biệt”

Nay kính,
Ký tên
Quách Tòng Đức

Dưới bức công văn chánh, do phủ Tổng thống gửi, còn mấy hàng phụ như sau:

Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Số 2044-GD/KTNS/2                                                                              Sao y kính gửi:

Ông Giám đốc Viện Khảo cổ, Sài Gòn
Quản thủ Viện Bảo tàng, Sài Gòn “để trình ký”

Sài Gòn ngày 9 tháng 2 năm 1963
K.T Tổng Thơ ký,
Phó Tổng Thơ ký
Ký Tên
Đỗ Bá Khê

Do công văn chép lại như trên, thì từ đây, tôi đã được lọt lắt xanh.

Người khác nếu được như vầy, ắt mừng lắm vì tương lai hy vọng tràn trề.

Nhưng đối với tôi, vốn sẵn tánh bi quan từ thuở nào, tôi chỉ thấy kể từ đây thiếu gì nguy hiểm khó phòng ngừa được: mỗi lần trên Phủ muốn mua đồ cổ, sẵn tôi đang được tin dùng, thiếu chi người, từ bọn buôn đồ cổ, bọn đứng trung gian đến kẻ hám lợi chưa biết được, họ có thể sẽ bán đứng tôi có ngày. Tỷ dụ, tôi không thấy món đồ, mà họ hô “tôi xem rồi”, hoặc tôi đã bảo biết là đồ quí.

Nhưng cũng may, cái sợ của tôi chỉ là trong tưởng tượng.

Cách đó không bao lâu, Tổng thống Diệm đột ngột qua đời, còn tôi cũng bị cho ra rìa, lìa khỏi Viện bảo tàng, trở về kiếp sống “hưu trí non”, và mười mấy năm làm them nơi viện này, không được kể bào tuổi thâm niên hưu trí, vì trong khế ước, tôi là nhân viên công nhựt.

Nay xin có mấy hàng hồi ký, không phải tiếc ông Diệm, sự thật chỉ ngậm ngùi cho thân. Từng đọc bài thi Lão ky qui y của ông Tôn Thọ Tường, càng thấm thía thấy thân sao giống hệt. Đối với riêng tôi, ông Diệm không có làm điều gì có hại cho cá nhân tôi. Một phút gặp gỡ cũng là tình, dẫu không phải một bức tình chung, nhưng cũng đủ hư thân trọn đời. Tôi viết mấy trang này, chẳng qua để nhắc lại việc cũ, dẫu có người còn trách tôi tưởng niệm ông, thân này có thể ví với gái hư, nay đã già, cho nên thà ở góa ngồi ngoài lần cuỗi cho qua ngày tháng.

Gia Định 15/7/1968
Trích trong sách “Hơn nửa đời hư” – tác giả Vương Hồng Sển