Những “kỷ niệm” & suy nghĩ của tôi về ông Đỗ Mười…

0
671

NHỮNG “KỶ NIỆM” VỚI ÔNG ĐỖ MƯỜI

Ấn tượng của tôi về Đỗ Mười…

Về cuộc đời và “sự nghiệp” chính trị của Tổng bí thư Đỗ Mười thì ai cũng đã biết, và cũng đã viết về ông, tôi không nhắc lại nữa. Tôi chỉ muốn kể những “kỷ niệm” đầy chất humour về ông mà thôi…

Đó là vào đầu năm 1995, trước Đại hội Đảng lần thứ 8, cũng là dịp kỉ niệm 20 năm ngày đất nước thống nhất, với tư cách là phóng viên Đài Tiếng Nói Việt Nam thường trú nhiều năm tại Đồng bằng Sông Cửu Long, tôi có viết một bài nhan đề “Hai mươi năm Đồng bằng Sông Cửu Long”. Bài này sau đó đăng trên Báo Sài Gòn Giải Phóng liền hai số báo ra vào các ngày 18/4 và 19/4/1995. Trước khi đăng báo, tôi có gửi bản thảo viết tay ra Hà Nội cho ông Sáu Phan ( Nguyễn Hà Phan) đương kim Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương Đảng, vốn là người sinh ra và lớn lên ở Miền Tây Nam Bộ, để ông tham khảo. Sau khi nhận được thư, ông Sáu Phan viết thư tay trả lời tôi. Trong thư có đoạn viết “…tôi xem thấy hay, chụp gửi các anh lãnh đạo và Tiểu ban chuẩn bị văn kiện Đại hội 8.”

Vì lẽ đó, khi Tổng bí thư Đỗ Mười vô TP.Hồ Chí Minh sau đó, ông Sáu Phan có gọi điện cho tôi bảo …lên T78, tức nhà khách của Trung Ương, để gặp TBT Đỗ Mười báo cáo thêm…Tôi lên T78 và mang theo cuốn sách mới in có tên “Viết từ Đồng bằng Sông Cửu Long” ( NXB TP.HCM) để tặng Tổng bí thư.

Gặp ông Đỗ Mười, tôi chủ yếu nghe ông nói là chính. Trong khi nói, luôn đưa tay “chém gió” và thú thật tôi chẳng hiểu ông nói gì, vì chuyện nọ xọ chuyện kia, không ra đầu ra đuôi gì cả… Lúc tôi xin phép ra về, ông còn tiễn tôi ra cửa. Ông nắm lấy cánh tay trên của tôi, nắm rất mạnh còn lắc lắc…và nói: Sao cậu gầy thế (Miền Nam kêu là …ốm thế!) . Tôi trả lời: Có phải đảng viên đâu mà béo được! (Miền Nam kêu là …mập được!) Ông liền bảo tôi: Thế là tốt!!!

Trên đường về, tôi rẽ qua Cơ quan đại diện Báo Quân đội nhân dân ở TP.HCM, kể lại câu chuyện béo, gầy này với đại tá nhà báo kiêm nhà thơ Trần Thế Tuyển… Anh Tuyển “mắng” tôi: Ông ngu bỏ mẹ! Người ta nói “tốt”… là tốt cho Đảng, người như ông mà vào Đảng là chỉ có phá Đảng mà thôi! Người ta làm chính trị nên chỉ nói đến thế …ông phải tự suy ra mà hiểu, còn đi khoe cái nỗi gì, ông ngu quá!!!

Chúng tôi đã ôm nhau cười…!!!

Về cái điệp ngữ “ Thế là tốt!” của ông Đỗ Mười, sau này tôi còn được nghe nhiều giai thoại. Chẳng hạn, có lần ông Đỗ Mười hỏi cậu bảo vệ: Ông già cậu ở quê dạo này thế nào? Cậu bảo vệ thưa: Dạ, bố con mới mất! Ông liền bảo: Thế là tốt!!! Có lần ông hỏi cậu lái xe: Tên cậu là gì? Thưa: -Tên con là Kim. Chiều ông lại hỏi: Tên cậu là gì? Thưa: – Từ sáng đến giờ tên con vẫn là …Kim! Tôi còn được gặp ông Đỗ Mười nhiều lần trong các cuộc ông đi kinh lý Nam Bộ. Có lần ông nói chuyện với các trí thức TP.HCM ở Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, trong đó có các trí thức tên tuổi như Tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh, từng là Phó thủ tướng chế độ Sài Gòn cũ…Khi giải lao, tiến sỹ Oánh và nhiều người khác đến hỏi tôi về những điều ông Đỗ Mười vừa nói, các vị đó không hiểu ông đã nói gì?! Có lẽ vì ông nói giọng Bắc, dùng nhiều từ bình dân của dân Bắc và lại nói chuyện nọ dọ chuyện kia nên các vị ấy không hiểu ông định nói gì! Tôi đành trả lời các vị trí thức Miền Nam rằng: Qủa thật tôi cũng không biết ông nói gì!!!

Một lần, vào khoảng đầu năm 1997, tôi ra Hà Nội, một vị lãnh đạo ở Bộ Nông Nghiệp bảo tôi: Ông Trần Đức nguyên Phó ban Nông nghiệp Trung ương rất muốn gặp tác giả hay viết về Đồng bằng Sông Cửu Long là tôi. Ông Trần Đức là tác giả cuốn sách rất nổi tiếng mang tên: “Kinh tế trang trại- sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp” mà tôi rất muốn có, vì thế, tôi đi liền. Nhà ông Trần Đức ở đầu đường Phạm Đình Hồ, sát vách nhà ông Đỗ Mười. Khi đến, tôi rất bất ngờ về vẻ đẹp của bà Mai, vợ ông Trần Đức. Tuy đã lớn tuổi nhưng bà Mai có một vẻ đẹp vô cùng quý phái và ăn nói rất lịch thiệp. Nghe đâu, sau hòa bình 1954, tỉnh Thanh Hóa “điều” bà tỉnh ủy viên Tây học này ra Hà Nội để làm mai cho Bác Hồ, nhưng việc không thành!!!

Trong lúc chờ cơm, ông Đức dẫn tôi lên sân thượng hóng mát. Ông Đức chỉ tay vào cái sân thượng liền kề và bảo tôi: Chúng ta bước qua cái thành lan can này sang sân thượng nhà ông Đỗ Mười rồi đi “từ trên đầu” xuống, thăm ông Mười!!! Tôi nghe theo…Ông Đỗ Mười đã tiếp tôi và ông Đức, và ông vẫn”chém gió” như thường ngày…Sau đó chúng tôi lại đi ngược lên sân thượng nhà ông Mười để về…“nhà mình”…ăn cơm trưa…

Suy nghĩ về TBT Đỗ Mười, tôi có nhận xét riêng của mình, xin cứ mạo muội trình bầy: Ông là tấn bi hài kịch của một người lãnh đạo Đảng cộng sản xuất thân từ tầng lớp bình dân trong xã hội Việt Nam nông nghiệp lạc hậu phong kiến nửa thực dân trước 1945. Vì yêu nước, ông đi làm cách mạng, từng bị thực dân tù đầy, tra tấn. Nhưng vì đi lạc vào quỹ đạo Cộng sản nên bị “ma dẫn lối, quỷ đưa đường…!” Đó là bi kịch (tragédie) cho chính ông và cho cả nhân dân của ông, trong đó có người viết những dòng này!!!

LÊ PHÚ KHẢI

Người thắt cà-vạt là tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh cùng các trí thức Miền Nam với ông Đỗ Mười, tác giả đứng sau TBT Đỗ Mười với máy ghi âm trong tay…

ĐỖ MƯỜI – DI SẢN TỘI ÁC

Cuối cùng thì Đỗ Mười, một trong những nhân vật cộng sản có ảnh hưởng nhất của Việt Nam đã qua đời, thọ 101 tuổi. Khi nhắc tới ông ta thì hầu hết người dân Việt Nam, nhất là miền Nam đều tưởng nhớ tới những sự kinh hoàng trong thời bao cấp. Di sản ông ta để lại là sự đau thương và tàn phá cho tới bây giờ vẫn còn được trông thấy.

Sau đây là những di sản tội ác của đồng chí này:

1. ĐÁNH TƯ SẢN – Sau khi đánh bại quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và chiếm miềm Nam, Đảng Cộng Sản ngay lập tức thực hiện chủ trương dẹp bỏ kinh tế tư nhân. Đỗ Mười, lúc đó là phó thủ tướng, được đảm nhận vai trò đánh tư sản với tên gọi bí mật là X3. Vào ngày 23/3/1978, chiến dịch đánh tư sản đã bắt đầu. Kết quả là gần như toàn bộ doanh nghiệp tư nhân đều bị tịch thu và nền kinh tế thị trường bị tiêu diệt hoàn toàn.

2. ÉP DÂN ĐI KINH TẾ MỚI – Dưới sự quan sát của ông ta, chính sách ép dân đi kinh tế mới được thực hiện. Từ những người có nhà cửa, nhiều gia đình đã phải mất tất cả và bị ép đi làm kinh tế mới ở những vùng sâu vùng xa. Theo ước tính thì tầm 1 triệu hộ gia đình và 3 triệu người đã bị ép đi như một hình thức trừng phạt người dân của chế độ cũ.

3. TRẠI CẢI TẠO – Sẽ là không chính xác nếu quy chính sách này cho riêng Đỗ Mười, nhưng ông ta là một trong những lãnh đạo giám sát và thi hành. Dưới chính sách này, các cựu quân nhân quân lực VNCH đã bị bỏ tù, tra tấn và giết chết dưới danh nghĩa “học tập cải tạo.” Với tầm 80 trại cải tạo trên toàn quốc, theo ước tính thì đã giam cầm hơn 300,000 người và trong số đó thì 165,000 người đã bỏ mạng.

4. NẠN THUYỀN NHÂN – Vì đánh tư sản cướp tài sản và bắt đi kinh tế mới, người dân bị ép vào đường cùng nên đã tìm mọi cách để trốn chạy. Trừ những người may mắn được đi theo diện HO, thì đa số đã chọn con đường vượt biên bằng thuyền. Theo Liên Hiệp Quốc thì tầm 800,000 người đã vượt biên và 10% trong số đó đã chết trên biển. Nhưng con số chính xác thì không ai biết, nhưng có lẽ là cao hơn nhiều.

5. ĐẤT NƯỚC TỤT HẬU – Hậu quả của việc dẹp bỏ tư sản và đánh kinh tế là Việt Nam đã bị tụt lùi ít nhất 50 năm. Trong khi các nước láng giềng phát triển thì Việt Nam vẫn còn bị giam cầm theo tư tưởng CNXH.

6. HẬN THÙ BẮC NAM – Một di sản quan trọng của Đỗ Mười cũng như ĐCS để lại chính là nạn hận thù Bắc Nam. Dân tộc sau năm 1975 bị phân biệt bằng sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch cũng như chính sách tuyển chọn nhân tài. Vì lý lịch “Ngụy” nên nhiều người miền Nam và con cháu của họ đã không được đi học, không được học đại học, không được vào làm trong cơ quan nhà nước và bị phân biệt đối xử.

Đỗ Mười là một sự ám ảnh đối với nhiều người miền Nam. Khi nghe tin ông ta qua đời, nhiều người thế nào cũng đã thở phào nhẹ nhõm. Di sản ông ta để lại là sự tụt hậu của đất nước và tàn phá của một dân tộc. Nếu muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể học Bên Thắng Cuộc và những tài liệu khác. Đồng chí Đỗ Mười, cuối cùng cũng nói lời giã biệt.

Ku Búa @ Cafe Ku Búa

BÁC ĐỖ MƯỜI

Tôi gọi bằng bác, vì ông hơn bố tôi gần mười tuổi. Ông lại là rể quê tôi. Vợ chính thất của ông, bà Tạ Thị Thanh, cùng họ, ở xã bên. Có ông con rể to cỡ bác Đỗ Mười đâu phải cứ muốn là được!

Khi bác Đỗ Mười làm quan lớn tỉnh Hà Đông rồi sau đó là Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình… thì bố tôi mới/vẫn chỉ phọt phẹt quan xã. Nhưng sự cuồng tín chủ nghĩa cộng sản thì bố tôi ăn đứt bác. Tôi không nói vô căn cứ. Nếu bảo bác Đỗ Mười chứng minh lòng trung thành với Đảng bằng việc đòm chết thằng con, chắc chắn bác không làm. Nhưng nếu cấp trên có ý định thử bố tôi như vậy, thì tôi sẽ phải tìm cách trốn lên rừng thật nhanh! (Giờ nghĩ lại, may mà cụ khốt mình chỉ làm đến bí thư xã, rồi bị đuổi ra khỏi đảng khi mới ngoài bốn mươi tuổi, về vườn sớm, chứ vớ vẩn cụ mà leo lên đến chức đầu triều như bác Đỗ Mười thì không khéo đất nước còn tan hoang hơn). Suốt thời bé, bố hay kể cho chúng tôi nghe về giai thoại bác Đỗ Mười đóng giả dân thường để “thử” một số cán bộ Nhà nước như công an, mậu dịch viên, bác sỹ bệnh viện… Chẳng hạn như mấy chuyện sau đây.

1- Lần ấy bác Đỗ Mười (trong vai nông dân) vào cửa hàng ăn mậu dịch, khi bác rình thấy một anh công an đẹp trai cũng vào ăn. Cả bác và anh công an đều gọi phở thịt lợn (thời ấy gọi là phở có người lái). Lát sau cô mậu dịch viên bưng ra hai bát phở, bát nhiều thịt hơn thì đưa cho bác, còn bát kia lèo tèo mấy mụn thịt vụn thì đưa cho anh công an. Thấy vậy bác Đỗ Mười bảo với cô nhân viên là bác không ăn được thịt, muốn đổi cho anh công an. Cô mậu dịch viên bèn gắt ầm lên, bảo bác là vớ vẩn, không ăn thì bỏ thịt đi, không đổi chác gì cả. Nhưng bác Đỗ Mười vẫn tiếp tục kì kèo. Cuối cùng, có thêm ý kiến khách hàng, cô mậu dịch bất đắc dĩ phải đổi. Bấy giờ bác Đỗ Mười mới sục đũa xuống (vì bác biết tỏng) và moi lên những miếng thịt nạc rất ngon được cô mậu dịch viên khéo léo vùi bên dưới để che mắt thiên hạ nhưng không qua được mắt bác Đỗ Mười.

2- Cũng trong vai nông dân, lần này bác Đỗ Mười vào khám cùng với một phụ nữ trẻ, đẹp tại một bệnh viện cấp tỉnh. Thấy gái, anh bác sỹ tít mắt lên. Anh ta bỏ mặc “ông già nông dân” nằm rên hừ hừ, khám rất kĩ cho cô gái trẻ đẹp kia. Bác Đỗ Mười-trong vai nông dân-bèn nêu thắc mắc thì bị anh bác sỹ mắng té tát cho một trận nên thân.

Những chuyện kiểu như vừa kể đều hạ màn giống nhau: đó là ngay sau cuộc cãi vã với ai đó, lập tức có một chiếc xe con –biểu trưng của quyền lực lúc bấy giờ- xuất hiện đón bác Đỗ Mười, khiến cô mậu dịch, anh công an, anh bác sỹ… đều sợ tái xanh tái xám cả mặt mũi. Thật đáng đời! Vì khi họ biết là bác Đỗ Mười đi “vi hành” thì mọi chuyện đã muộn.

Trừ một lần xuýt gặp hạn về cuốn sách có chút liên quan đến trách nhiệm của bác Đỗ Mười với Hiệp định dầu khí Việt-Xô, tôi không có ấn tượng gì đặc biệt với bác. Trước những lời kết tội bác là hung thần làm tan hoang miền Nam khiến hàng triệu người bỏ đất nước ra đi, hay những lời đồn dai dẳng về “mật ước” Thành Đô khiến Việt Nam quay trở lại lệ thuộc Trung Quốc, thì tôi chỉ biết rõ nhất một điều: Mình không đủ thông tin và trong cả hai sự kiện tai tiếng ấy, bác Đỗ Mười đều là người thực thi nhiệm vụ được giao. (Thời triệt hạ nền kinh tế miền Nam sau năm 1975, bác Đỗ Mười còn “bé tí” so với hàng chục ông lớn khác). Cơ chế ở ta là tập thể lãnh đạo, tập thể đưa ra quyết định. Một khi được giao nhiệm vụ, cỡ như bác Đỗ Mười có muốn thoái thác cũng khó!

Nhưng tình cảm của bố tôi với bác Đỗ Mười thì đầy tính đảng và vì thế mà vô cùng bi kịch! Bố tôi luôn coi bác Đỗ Mời là thần tượng, là “bậc đàn anh trên con đường cách mạng”-như ông vẫn thường trang nghiêm bảo thế. Với bố tôi, bác Đỗ Mười là người mẫu mực về lòng tận tụy, về sự trong sạch và nghiêm khắc, mặc dù cụ khốt cũng chẳng hề có thông tin gì cụ thể mà chỉ nghe qua tuyên truyền. Bố và tôi cãi nhau khá nhiều, thậm chí có lúc đã gần tới mức bị cụ khốt từ mặt, chỉ vì bác Đỗ Mười. Nhớ nhất lần tôi kể chuyện đoàn cán bộ huyện Chương Mỹ ra chia buồn với bác Đỗ Mười về việc vợ đầu của bác từ trần. Sau khi đoàn vào lễ bái, họ cũng được bác Đỗ Mười tiếp. Nhưng thay vì cảm ơn, bác truy hỏi ông bí thư là huyện có bao nhiêu ngọn núi, cả huyện nuôi bao nhiêu con gà…khiến ông trưởng đoàn viếng tang sợ rúm vó và tất nhiên là…cứng họng! Có lẽ giọng kể của tôi có phần cợt nhả khiến bố tôi tím mặt và gầm lên: “Người ta quan tâm sát sao thế thì tốt hay xấu, hả?”

Lần khác tôi kể chuyện nghe từ một lãnh đạo Dầu khí, rằng khi sang thăm Hàn Quốc, bác Đỗ Mười được chủ nhà dẫn đi xem một nhà máy đóng tầu thủy rất hiện đại. Bác Đỗ Mười bị choáng ngợp trước những gì hiện ra trước mắt. Bác bèn quay lại bảo với những người trong đoàn, rằng các anh phải làm sao để nước mình cũng được thế kia. Trong đoàn có ông phó thủ tướng, khi nghe vậy bèn ghé tai vị lãnh đạo Dầu khí nói vụng: “Làm gì ông cũng cấm, thì cứ chờ đấy mà bằng người ta”. Tôi chỉ kể lại cho bố những gì nghe được, không hề bịa thêm tí ti. Nhưng bố tôi vẫn giận lắm. Ông bỏ cơm giữa chừng đi nằm, không chịu nổi thần tượng của mình bị giễu cợt, để nửa đêm trở dậy ngồi lẩm bẩm chửi tôi cho đến sáng.

Về cuối đời, bố tôi khi đó thuộc thành phần rất bất mãn, có một sở thích tai quái là ngày nào cũng ngồi chửi nhau với cái..tivi, vào đúng chương trình thời sự tối. Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng…ông gọi tuốt tuột bằng thằng, đồ ăn hại, đồ toi cơm…Bố tôi, một chiến sỹ cộng sản trung kiên bị đuổi ra khỏi đội ngũ tinh hoa mà chửi thì chua chanh và ác khẩu vào loại nhất thế giới. Một lần bố không chửi như thường lệ, mà cứ hầm hè đầy vẻ ấm ức. Mãi sau, dường như không nín nhịn được nữa, ông hét lên: “Đ.mẹ các ông! Hóa ra tôi bị các ông lừa”.

Tôi ở trong buồng tò mò ngó nhanh ra ngoài, thì thấy trên màn hình tivi lúc ấy bác Đỗ Mười đang “chém gió” bằng tay trái.

 LAO TA

Ác Nhân Dị Sử

Đỗ Mười thuở nhỏ bản chất đần độn, học hành dốt nát, chỉ ham chơi, không thiết việc đến trường. Bố mẹ đánh mắng lắm Mười cũng chỉ cố đến lớp ba trường làng là hết mức. Ngày ngày giả vờ ôm cặp ra khỏi nhà là giấu vào bụi rậm, đi lêu lỏng cùng bọn “nhân dân tự phát” nghịch ngợm phá xóm, phá làng. Người trong làng, xã ai ai cũng kiềng mặt Mười.

Đến năm 18 tuổi, bố mẹ già yếu quá không thể nuôi được Mười nữa. Mười chẳng biết nghề ngỗng gì làm để nuôi thân, lâm vào cảnh đói rách triền miên. Một hôm, có người hoạn lợn từ phương xa vào làng Mười để hành nghề. Bản tính vốn du côn, ưa chơi dao búa, Mười thấy ông thợ hoạn khua dao cắt dái lợn, máu me đầm đìa thì lấy làm thích thú lắm. Bèn xin theo học nghề. Học chữ nghĩa thì tối dạ nhưng học cầm dao thì Mười tỏ ra có năng khiếu vượt bực. Chỉ sau ba lần cầm dao thực tập, sư phụ “hoạn trư” rất hài lòng đã tìm được đệ tử chân truyền nên cho phép Mười xuống núi, ra tay hành hiệp, tế độ loài heo.

Từ đó, ngày ngày Đỗ Mười đi khắp xã Đông Mỹ, quê của hắn, thổi sáo toe toe, toét toét, rao thiến lợn, kiếm ăn. Tay nghề xuất sắc, tiếng lành đồn xa, cả cái huyện Thanh Trì, Hà Nội, những nhà có nuôi lợn, ai ai cũng cố mời cho được Mười đến nhà ra tay “giải phóng” dùm “của nợ” bầy heo của mình. Tiền công trả rất hậu hỉ. Đời sống của Mười phất lên, tuy không giàu có gì cho lắm, nhưng chuyện rượu “quốc lũi”, thịt chó thì tha hồ ngất ngưỡng thường xuyên với đám “nhân dân tự phát” ở các bến xe, bến đò. Đêm nào Mười cũng say be bét, bò lê, bò càng trở về nhà.
Lời khuyên răn, dạy bảo của bố mẹ, Mười bỏ ngoài tai. Đôi khi còn sừng sộ mắng trả.

Một ngày kia, Mười đang xắn tay áo, múa dao chăm chú thiến heo thì có một người đứng chắp tay sau đít, theo dõi từng động tác của Mười. Xong việc, Mười ngẫng lên, thấy một lão già ốm nhom, má hóp, trán hói, mắt sâu, râu lưa thưa dưới cằm, đang chắm chăm nhìn mình, miệng đang tủm tỉm cười. Mười tưởng lão già đang chế nhạo nghề hoạn lợn của mình nên nổi cáu, sừng sộ giọng du côn:

-Ê! Cười cái đíu gì thế? Chưa bao giờ thấy người ta thiến lợn à?
-À không! Không dám đâu! Chẳng qua lão thấy đường dao của chú khéo quá nên hâm mộ đứng xem chơi ấy mà!

Thấy người khách ra điều nhỏ nhẹ, lại khen mình nữa nên Mười khoan khoái trong lòng, bèn dịu giọng lại, cười cầu tài:
-Thế ông có muốn tôi đến nhà để “giải phóng” cho bầy lợn của ông không?
-Ta chả có heo qué gì để mời chú đến “giải phóng” nhưng thích tay nghề của chú nên muốn mời chú hợp tác trong việc làm ăn lớn. Chú có muốn không?
– Công việc của ông có liên quan gì đến nghề thiến lợn của tôi mà hợp tác?
-Nghề làm ăn của ta cần có người biết cầm dao khéo và gan dạ như ngươi!
-Nhưng thú thật, gan thì có đủ nhưng đường dao thì vẫn chưa được điêu luyện lắm. Thiến mười con thì ba con bị nhỡ dao phải làm thịt. – Mười vờ khiêm tốn.
-Ta chỉ cần phân nữa ấy cũng đủ lấy thiên hạ rồi.
-Mà nghề của ông làm gì? Tôi phải biết mới theo được chứ?
-Nghề bán nước!

Đỗ Mười phá lên cười hô hố:
-Ối cái thứ nước vối bán ở mấy cái quán dọc đường, hay theo bến xe đò ấy khấm khá thế quái nào bằng cái nghề hoạn của tôi? Thôi đi ông ơi! Cho tôi vái cả nón!
-Ấy! Chú chớ có hiểu lầm! Nước đây nói theo tiếng Đại Hán là “giang sơn ”, là đất nước chứ chẳng phải cái thứ nước vối tầm thường của chú tưởng đâu đấy!

Mười cười mỉa:
-Gớm nhẻ! Thế ông là ai, có quyền hạn gì mà có thể đem nước ra bán? Làm vua chắc?
-Ta là ai thì chú chưa cần biết vội. Chỉ biết rằng nếu chú chịu theo ta thì sau này sẽ được quyền chức, giàu sang tột đỉnh, con cháu vinh hiển suốt đời. Thế nào có chịu không?

Thấy nói đến giàu sang, quyền chức, Mười sáng mắt lên nhưng còn ngần ngại:
-Việc này trọng đại, tôi không thể tự mình quyết được! Để tôi về hỏi bố tôi xem sao đã rồi giả nhời ông sau.
-Ừ! Thế thì tốt. Nhưng phải nhanh nhanh lên mới được.
-Nhưng lúc đó biết tìm ông ở đâu?
-Cứ đến Cao Bằng, vùng biên giới Hoa-Việt, hỏi thăm người dân ở đấy, tìm đến hang Pắc Pó, gặp Hồ chí Minh, tự khắc người ta sẽ chỉ cho.

Nghe nói tên Hồ Chí Minh, bất giác Đỗ Mười hoảng hốt, sụp xuống lạy như tế sao:
-Đỗ Mười này là kẻ ngu hèn đáng chết, có mắt mà không ngươi, không biết Ngài là “cha già dân tộc”. Bố tôi cứ nhắc đến Ngài như là bậc anh hùng đời nay sánh với Tào Tháo thủa xưa. Xin Ngài thứ tội chết cho!

Già Hồ đưa tay đỡ Mười đứng lên rồi ôn tồn bảo:
-Được rồi! Không biết là không có tội. Đừng gọi ta là Ngài, phong kiến, cổ hủ lắm. Hãy gọi ta là “Bác” hay “Cha già dân tộc” cho có vẻ cách mạng và thân tình trong nhà.

Nói xong, lão già Hồ thò tay vào túi áo phía bên tay trái móc ra gói thuốc Ăng Lê Phillip Moris mời Đỗ Mười một điếu để gọi là kết giao tình đồng chí. Đỗ Mười đưa cả hai tay ra run run đỡ lấy điếu thuốc quí rồi giắt vào mép tai chứ không dám hút.

Già Hồ miệng tủm tỉm cười, lại đưa tay vào túi áo phải, móc ra một bịch nhựa đựng giấy quyến, thuốc rê, rồi quấn một điếu “bốc lăn xe” to như sâu kèn, le lưỡi ra liếm vòng tròn điếu thuốc, ngậm vào miệng, bật quẹt lửa đốt thuốc. Hít hít mấy hơi, xong bảo:
-Nào chú hãy hút với Bác đi chứ, đồng chí Mười!
-Dạ em không dám đâu. Bác hút “bốc lăn xe” thì em nào dám hút thuốc của đế quốc!
-Đừng ngại! Bác mời! Khách quí Bác mới mời đấy! Mà quí vì cái tài múa dao của chú nữa đấy. Nào! Hãy hút vì tinh thần cách mạng vô sản của chúng ta! Hẹn sớm gặp lại. Chào nhé!

Già Hồ đã đi khá xa mà Đỗ Mười vẫn còn đứng ngẫn người ra như kẻ mộng du, không hiểu lão ấy nói “cách mạng vô sản” là cái quái quỉ gì. Mặc, miễn giàu sang là được. Mười vừa bước đi, vừa lẩm bẩm trong mồm:
-Ông đíu cần hiểu cách mạng với vô sản là cái chó gì miễn có tiền, có quyền là được!

Hôm ấy, Đỗ Mười về nhà sớm hơn thường lệ. Ông bố lấy làm ngạc nhiên vì chiều nào Mười về đến cửa là đã say khước, miệng lè nhè những lời chửi thề, thô tục. Bèn hỏi:
– Hôm nay không có mối à? Về sớm thế?
– Chả phải thế bố ơi! Vào đây con bảo cái này!

Đỗ Mười kể lại sự việc ban sáng cho bố nghe xong rồi hỏi:
-Nghề hoạn lợn so với nghề buôn vua khác nhau thế nào?
-Hoạn lợn là nghề ti tiện, cơm kiếm được chỉ đủ đút vào mồm, sánh làm sao được với nghề buôn vua. Trúng mánh một phát là giàu sang, vàng bạc châu báu cơ man nào mà kể, hơn cả Lã bất Vi đời nhà Tần ấy chứ!
-Thế sánh với nghề buôn nước thì thế nào?
-Thế nào nữa? Đem được giang sơn của tổ tiên ông bà, của cả thiên hạ ra bán cho ngoại bang thì lợi lộc, của cải chất như núi, quyền cao, chức trọng tột đỉnh. Muốn hô gió có gió, muốn gọi mưa có mưa. Tám chục triệu dân nước Việt này sẽ quì mọp dưới chân mày mà tung hô “Hoàng đế Đỗ Mười muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ sống mãi trong quần… chúng” ấy chứ.

Mười nghe xong, ngữa mặt lên trời cười to ba tiếng. Tiếng cười nghe ghê rợn như tiếng lợn bị thiến.
Hôm sau, Mười đem hương đèn ra bờ sông tế lễ, bỏ nghề thiến lợn, ném dao mổ xuống dòng nước. Từ giả bố mẹ già, quyết tâm tìm đường lên hang Pắc Pó để hợp tác với “Bác Hồ – Cha già dân tộc” mưu đồ việc lớn. Trước khi đi,

Mười thề độc một câu:
-Không thành danh, quyết không trở về cái xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì này!

Năm đó, 1939, Mười đúng 22 tuổi, bỏ nhà theo già Hồ và đảng Cờ đỏ, để đi ăn cướp.

Khi tìm được đến hang Pắc Pó, gặp được già Hồ trên nhà sàn Thượng, Mười sụp xuống lạy ba lạy, xin được thu nạp. Già Hồ mừng lắm, đưa tay đỡ Mười lên và cười nói:
-Được chú đến đây là phước lớn của Đảng ta! Mưu lớn ắt phải thành.
Đoạn cầm tay Mười dắt vào nhà trong, giới thiệu với hai người đang có mặt trong phòng.
-Để Bác giới thiệu cho các chú quen biết với nhau. Đây là chú Giáp. Kia là chú Đồng. Còn đây là chú Mười. Ba chú hãy bắt tay nhau và từ nay hãy gọi nhau là đồng chí nhé.

Ba người vừa ngượng nghịu bắt tay nhau theo kiểu Phú Lãng Xa, vừa cúi gập người xuống, nửa Âu, nửa Á trông ngô nghê, buồn cười, mồm lí nhí chào: Đồng chí! Rồi cả ba đều im lặng, giữ kẽ.

Mãi khi ngồi vào bàn uống nước trà, đến tuần thứ ba, già Hồ mới mở miệng:
-Hôm nay Bác rất vui, rất thỏa mãn trong lòng là vì Bác đã tìm được ba hào kiệt trong đời chính là ba đồng chí sẽ giúp cho Đảng, cho Bác sớm hoàn thành mưu đồ đại sự. Lưu Bị ngày xưa cũng nhờ có ba đại tướng là Quan, Trương, Triệu giúp sức mà lập nên nhà Hán. Bác phân công cho ba chú như sau: Chú Giáp lo đánh giặc bên ngoài, chú Mười lo dẹp loạn bên trong, còn chú Đồng sẽ ngồi trong nhà sàn cùng ta vạch định kế hoạch lúc tiến, lúc thối. Nào! Các chú có nhất trí không?

Ca ba cùng đứng lên một lượt, vòng tay, cúi đầu cung kính đáp một rập:
– Bác thật là anh minh thần võ, là đỉnh cao trí tuệ loài người! Chúng tôi đồng ý, nhất trí với Bác. Đúng như nhân dân ca tụng khắp trời rằng: “Bác Mao đâu ở nơi xa! Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao”!
Hồ Chí Minh ngồi nghe ba tên Giáp, Đồng, Mười xun xoe nịnh hót, bợ đít mình như thế lấy làm vui vẻ, thích chí lắm. Cứ đưa ray vuốt chòm râu lưa thưa của mình, cười ruồi mãi.

Kể từ đó, Mười được Hồ giao cho quyền hạn rất lớn, được quyền “tiền trảm hậu tấu”. Từ năm 1945 đến năm 1955 Đỗ Mười nổi tiếng như cồn về cuộc đại càn quét “gián điệp” ở Hải Phòng với câu danh ngôn để đời: “Thà giết lầm hơn bỏ sót”. Mười hoạt động hăng say, tích cực trong các chủ trương lớn của Mao-Hồ như “Cải cách ruộng đất”, đại thanh trừng “Xét lại”, trù dập phong trào “Nhân văn giai phẩm”, tắm máu nhân dân Quỳnh Lưu – Phát Diệm… Đặc biệt là ký Nghị quyết 49/NQ/TYQH ngày 20/6/1961, cho phép công an bắt giam mọi công dân mà không cần trưng ra chứng cớ, hoặc xét xử. Tay nghề “họan lợn” năm xưa bây giờ đổi sang cắt cổ người như ngoé đã làm cho con đường “hoạn lộ’ Đỗ Mười thênh thang mở rộng. Máu người dân vô tội càng chảy nhiều bao nhiêu danh vọng, quyền lực của Mười càng thăng tiến vùn vụt bấy nhiêu.

Chỉ trong vòng hơn mươi năm, từ một Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Đông năm 1946, Mười nhảy lên chức Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy Ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước năm 1963. Năm 1973, Mười nắm quyền Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho đến năm 1991, được bầu lên chức Quốc vương, tức Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến 1997. Mười làm vua chỉ được có 6 năm thì bị Hoàng đế Đại Hán là Giang Trạch Dân tước quyền, lấy lại ngôi báu giao cho Lê Khả Phiêu.

Đáng ra, năm 1969 khi Hồ Chí Minh sắp “chuyển sang từ trần” thì Mười sẽ được đề cử lên làm Quốc vương thay mình để trị vì dân đen nhưng bị hai soán thần là Lê Duẫn và Lê Đức Thọ âm mưu đoạt ngôi theo cách của hai hoạn quan Dịch Nha và Thụ Điêu ám hại vua Tề Hoàn công thời Đông Chu là “cách ly” Hồ với mọi quan hệ với bên ngoài và bỏ đói cho đến chết.

Với tham vọng tóm thâu đất nước vào một tay, năm 1968, Hồ Chí Minh xua hết binh lực miền Bắc tấn công miền Nam vào đúng ngày mồng Một Tết Mậu Thân. Tưởng rằng đánh bất ngờ giữa lúc dân miền Nam đang vui vẻ đón Xuân, rước ông bà về ăn Tết với con cháu, sẽ không ai đề phòng chó cắn trộm. Nào ngờ, “vui Xuân nhưng không quên nhiệm vụ”, quân dân miền Nam đã giáng trả những đòn sấm sét làm cho bính lính già Hồ “sặc máu”, tan tành binh giáp. Lớp chết, lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kề. Tàn quân kéo về Bắc không còn được một phần mười.

Thua đau, nhục lớn, già Hồ uất ức sinh ra tâm bệnh, nằm liệt giường cả năm. Bọn Lê Duẫn và Lê Đức Thọ từ lâu bị già Hồ xem là có cốt tướng phản, không được tin dùng trong những chức vụ quan trọng, chỉ cho hầu cận bên mình như những thái giám nên đem lòng oán hận. Bọn Duẫn, Thọ đã có âm mưu trừ khử già Hồ để soán ngôi, nay cơ hội đã đến, liền cùng nhau ra tay. Lấy cớ già Hồ đang bệnh nặng không muốn tiếp kiến ai, hai tên Duẫn và Thọ nhốt riêng già Hồ trong phòng kín cho kẻ thân tín canh giữ ngày đêm và bỏ đói, không cho ăn uống gì cả. Đến ngày thứ mười, già Hồ đói, khát quá, bò ra cửa, kêu người dâng cơm nước. Kêu cả buổi chẳng có tiếng ai thưa. Đến hơn mười ngày nữa, người gầy rạc chỉ còn da bọc xương, hai mắt lờ đờ, nói thều thào không ra tiếng, chỉ ra hiệu bằng tay.

Đến lúc này, Duẫn, Thọ mới triệu tập đông đủ Bộ Chính trị lại bên giường để nghe di mệnh của “Bác Hồ”. Lúc ấy, già Hồ không còn đủ sức nói được nữa, cố giơ cánh tay gầy xương chỉ vào miệng mình rồi chỉ vào Duẫn. Ý Hồ muốn nói: “Ta đói quá! Chính thằng Duẫn bỏ đói giết ta!”. Nhưng mọi người lại lầm tưởng già Hồ muốn truyền ngôi cho Duẫn nên cả bọn sụp xuống lạy vâng di mệnh và đồng tung hê: “Đồng chí Lê Duẫn muôn năm”.
Già Hồ thấy bọn ngu này hiểu lầm ý mình, uất khí quá, miệng thổ ra một đống huyết, mắt trợn ngược, ngoẹo đầu sang một bên, tắt thở, đi luôn một chuyến tàu suốt, chạy theo các bác Mác, bác Mao đang chờ bên kia thiên đường Cộng sản.

Chỉ riêng mỗi mình Đỗ Mười là biết được ý của già Hồ, nhưng ngó quanh thấy toàn là phe đảng của Duẫn, không dám cãi, lòng rất căm tức nhưng đành câm họng chờ cơ hội sau này.

Già Hồ chết rồi, bọn Duẫn, Thọ không theo di chiếu của Hồ là hỏa thiêu nhục thể rồi đem tro cốt rãi trên ba miền Bắc, Trung, Nam, lại đem xác Hồ phơi khô trong lăng Ba Đình để trả hận.

Âu đó cũng là ác giả ác báo cuộc đời của một gian hùng. Lưới trời tuy thưa mà khó lọt.

Năm 1977 Mười giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Trưởng Ban Cải tạo Công Thương nghiệp là thời gian Mười ra tay tàn ác khủng khiếp nhất. Mười đề ra chính sách “đánh tư sản mại bản” và “cải tạo thương nghiệp” ở miền Nam, để tha hồ bắt giam, giết người, cướp của.

Những ai bị Mười lên danh sách liệt vào hai thành phần đó là bị tù tội, tán gia bại sản. Mười trả thù “ngụy quân, ngụy quyền” bằng tù “cải tạo”, đày thân nhân họ lên vùng “kinh tế mới”, thu vàng bán bãi sau năm 1975. Mười đã thu hết kinh nghiệm máu lửa của thời làm Bộ Trưởng Nội thương miền Bắc thời gian 56-57 vào thanh lý miền Nam.
Con dao thiến lợn năm xưa giờ trở thành cây “tàn chi quái đao” đầy uy lực tàn độc, sắc bén vô song, chém người không vấy máu. Có người sợ đến đỗi khi nhận được “Giấy mời” của Mười, đã đứng tim, ngã lăn ra chết ngay. Rất nhiều người uất ức phải nhảy lầu hoặc treo cổ tự vận trong thời gian này. Con số nạn nhân của Mười có cả hàng chục, hàng trăm ngàn người.

Đến năm 1997 tuy đã xuống ghế rồi nhưng phe cánh trong triều hãy còn đông nên Mười vẫn còn nhiều quyền lực trong vai trò Thái Thượng hoàng Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tuy quyền uy lên tột đỉnh như vậy, Mười vẫn luôn mang mặc cảm cái dốt nát và cái nghề hoạn lợn của mình. Mặc dù lúc sinh thời, già Hồ thấy cái nghề của Mười ti tiện quá nên cho chép trong sử của đảng là Mười làm thợ sơn. Trong những lần sang Bắc kinh chầu Thiên tử, Mười đều bị bọn Tàu xỏ xiên đem cái nghề thiến heo ra làm nhục mình. Mười cay đắng, ngậm bồ hòn làm ngọt. Nhưng sự uất ức căm thù cứ ngày càng dồn nén, Mười thề quyết có ngày sẽ trả mối hận này. Năm 1975, sau khi cướp được miền Nam, thống nhất lãnh thổ, Mười là một thành viên trong tập đoàn Lê Duẫn chủ trương phản Tàu theo Nga.

Thiên địa bất dung gian, chỉ có 4 năm sau, tập đoàn Bắc Bộ phủ bị Đặng tiểu Bình sai Hứa thế Hữu và Dương đắc Chí mang quân sang “dạy cho quân hắc tâm vô ơn một bài học” khiến cho hàng vạn quân dân 6 tỉnh miền biên giới nát thây oan uổng. Chưa tính đến thiệt hại nhà cửa, tài sản bị bọn Tàu cướp, phá tan hoang thành bình địa.

Năm 1991, Mười, Kiệt, Anh đành phải cởi trần vai áo, đầu đội mũ gai, sang Bắc kinh quì lạy Thiên tử Giang trạch Dân xin làm chư hầu trở lại một cách nhục nhã.

Thù riêng chưa trả được, nhục nước còn mang thêm. Mười nghiến răng thề rằng: “ Thù này, hận này giờ chưa thể rửa được thì đến đời con ta phải trả cho bằng được”.

Tháng 7 năm 1997, Đỗ Mười và Võ văn Kiệt sang họp ở Bắc kinh, lại bị làm nhục lần nữa sử chép:
“Mùa thu năm Đinh Sửu, Quốc vương Đỗ Mười và Tể tướng Võ văn Kiệt sang chầu Thiên tữ Giang trạch Dân. Cuộc chầu Thánh Thiên tử lần này rất căng, không khéo lại có bài học nữa thì thanh niên Việt Hoa tha hồ mà chết. Trong buổi họp, Giang là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý rất văn hoa, lại ưa xen vào các câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Ngược lại Đỗ Mười lại dốt đặc cán mai. Lại hay lẫn. Một sự kiện nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay lại. Trong một bữa ăn, Giang móc lò Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu: “Lợn Trung Quốc không to béo bằng lợn Việt Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn VN hầu hết là lợn thái giám nên to lớn”. Mười biết bị chơi xỏ, căm lắm, nhưng không làm gì được. Thêm nữa, trong lúc hai bên nâng ly, Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ:

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,
Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu.

Thông dịch viên dịch lại cho Mười nghe như sau: “Sau khi trãi qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn. Hôm nay, gặp lại nhau, cười một cái, mới hiểu rõ ai là bạn ai là thù”. Mười không hiểu ý Giang muốn nói gì. Khi về khách điếm, Mười hỏi lại bọn trí thức đi theo cố vấn. Bọn chúng giảng rõ rằng Giang có ý đe dọa. Mười gặng hỏi, chúng giảng:

Cầu thứ nhất: Hãy coi gương của Lê Đức Anh. Anh bị méo miệng, một mắt nhắm không được. Bán thân bất toại. Vì có chữ: Độ là bến đò. Tận là hết. Kiếp tiếng nhà Phật là tai vạ. Huynh là Anh. Nghĩa là thằng Anh bị tai vạ hết kiếp.
Câu thứ hai: Bây giờ gặp nhau ở đây, tao cười một tiếng để chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.

Mười nghe giảng xong sợ khiếp, nhưng nửa tin, nửa ngờ, hỏi lại: Lê đức Anh bị đánh thuốc độc từ bao giờ?Bọn tùy tùng nhắc: “Cách đây mấy năm, Ngài, Lê đức Anh với Võ văn Kiệt sang Quảng Đông họp. Trong dịp đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo có tẩm nước hoa đó đã làm cho Anh bị xuất huyết não, thành bán thân bất toại. Mười nhớ lại, không những Lê đức Anh mà Đào duy Tùng, Lê Mai đều bị đầu độc cùng một kiểu như thế cả, sợ quá, mồ hôi toát ra như tắm. (Theo GS Trần đại Sỹ)

Kể từ đó Mười giữ mình, tránh họa diệt thân, không dám sang Trung Quốc nữa. Nhưng mối hận vẫn còn chất chứa trong lòng.

Mười có hai con, một trai, một gái. Đứa con trai đầu lòng khi sinh ra không có hậu môn. Dân Hà Nội kháo nhau rằng vì Mười ác quá, bàn tay vấy đầy máu dân vô tội nên bị báo ứng để trả nợ. Không đêm nào Mười ngủ yên giấc. Cứ chợp mắt là mộng thấy hồn ma kéo cả bầy đứng bên giường đòi mạng. Ác mộng triền miên khiến Mười phát điên loạn, mất trí nhớ, đã hai lần phải vào bênh viện tâm thần một thời gian để điều trị.

Lúc mới sinh thằng con trai, Mười đặt tên nó là Đỗ Hành. Gìa Hồ thấy Mười dốt nát, đặt tên cụt lủn giống như cha nó là Đỗ Mười, bèn ban thêm chữ lót là “ngọc” cho cao quí, xứng với dòng dõi tướng quân của triều đình. Thành ra Đỗ ngọc Hành.

Đứa nhỏ Ngọc Hành sinh ra đã ba ngày mà không ỉa được cứt su nên bụng chướng lên như cái trống. Thở không được, mặt mày tím ngắt. Mười muốn đưa con vào bệnh viện nhờ đốc tờ Tây giải phẫu nhưng còn ngại ngần bèn hỏi ý kiến Trường Chinh. Chinh vốn chủ trương theo Tầu, từ năm 1951, trong chức vụ Tổng Thư ký đảng Lao Động Việt Nam, đã từng tung ra truyền đơn hô hào nhân dân Việt Nam hãy “bỏ chữ Quốc ngữ để học chữ Tàu, bỏ bệnh viện, bỏ nhà bảo sanh và cách chữa bệnh theo Tây phương để theo thuốc Tàu…” nên Chinh gạt phắt và nói rằng:
-Y khoa của bọn Tây chỉ cắt, đục, khoét. Chúng ta hãy gạt ngay cách chữa bệnh của bọn Đế quốc. Chúng ta hãy dùng thuốc dán của Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu để chữa cho cháu nó. Vã lại cháu nó là máu huyết của quí tộc, của dòng dõi vua chúa thì làm sao để cho bọn Đế quốc sờ tay vào được.

Mười nghe lời Chinh, mua thuốc dán hiệu “Con rắn”, công hiệu như thần, trị bá bệnh, về dán vào hậu môn cậu quí tử Đỗ ngọc Hành. Sang ngày thứ năm, đứa bé tắt thở, cả mình mẩy đều thâm tím vì bị ứ máu. Nghĩ rằng Trường Chinh có ý hại cho mình tuyệt giống nên từ đó Mười thâm thù Chinh đến xương tủy.
Mấy năm sau, Mười sinh tiếp đứa thứ hai nhưng lại là con gái. Mười đặt tên là Đỗ ngọc Bẹc. Bẹc giống cha, có cái lỗ mũi kỳ lân rất to và mang tính di truyền học rất dốt không kém Mười thuở bé, nhưng tính lại thích đua đòi ăn chơi, chưng diện.

Một lần, Mười nhân tiện công tác, ghé thăm con gái tại trường Trung học nọ. Lúc vào văn phòng hỏi cô thư ký gọi dùm đứa con đang học lớp 9 tên Đỗ thị Bẹc. Cô thư ký tìm hết danh sách 4 lớp 9 trong trường vẫn không có tên. Mười nghĩ rằng mình đã đến nhầm trường. Vừa lúc ấy, chuông reo giờ ra chơi. Học sinh túa ra sân, Mười thấy con gái mình liền vẫy gọi vào. Cô thư ký thấy thế mới bảo:
-Cô ấy tên là Bích, Đỗ ngọc Bích chứ có phải là Ngọc Bẹc đâu!
Mười kêu lên:
-Ối giời ơi! Con ơi là con! Thằng bố mày đặt tên cho mày là Bẹc, tên Tây cho sang đấy con ạ. Bẹc (perle) là ngọc trai đấy. Tưởng mày cãi tên gì cho hay ho chứ Ngọc Bích hơn gì Ngọc Trai. Bích hay Bẹc cũng thế thôi.
Năm ở cấp 3, Ngọc Bẹc không đủ điểm để lên đại học, Bác Mười chỉ thị cho trường này phải tăng điểm cho con mình. Vị Hiệu trưởng trường CNKT1 đã một lần bị Phó Thủ tướng Mười hăm cho ăn cứt khi xin di dời trường trở lại Hà Nội rồi nên hãi quá phải họp Hội đồng giáo viên lại cùng nhau tăng điểm cho Ngọc Bẹc. Trong thời chiến tranh, trường này phải sơ tán về Lạng Giang. Sau 1975, vị Hiệu trưởng kiến nghị xin cho trường được dời về nguyên quán, Mười phán:
-Ở Lạng Giang rộng rãi thông thoáng không chịu ở lại đòi về Hà Nội để ăn cứt à?
Hôm ăn khao con mình đỗ tú tài, quan lớn trong triều đến dự rất đông, Đỗ Mười chắc lưỡi tiếc rẽ:
-Cái đám giáo viên trường CNKT1 cho điểm keo kiệt quá. Chỉ còn thiếu có nửa điểm nữa là con bé nhà tôi đã đậu hạng “Ưu” rồi chứ có phải cái bằng hạng “Bình thứ” này đâu.

(Mấy tuần nay, cô Bẹc Bích này muốn nổi tiếng tắt nên chơi bạo bằng cách chọc giận thiên hạ bằng một bài viết rất ư là “vô văn hóa” bảo rằng dân Việt là một phần máu mủ của Trung Quốc, đất nước Việt cũng là của Trung Quốc. Thiên hạ đã đưa cô ta lên bàn mổ, đỗ nước sôi, cạo sạch bách không còn một cọng lông. Chuyện rất lý thú có nhiều tình tiết ly kỳ, xin xem truyện “Dập mật” kỳ tới sẽ rõ.)

Tháng 6 năm 1991, Mười lên ngôi Quốc vương với chức Tổng bí thư đảng Cờ đỏ, nắm quyền sinh sát dân tộc suốt hai nhiệm kỳ.

Tháng 6 năm 1997, Mười bị Thiên triều Đại Hán truất quyền để đưa con gà nòi của mình là Lê Khả Phiêu lên ngôi Quốc vương và tấn phong cho Mười chức Thái Thượng hoàng, cùng với Lê Đức Anh làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung Ương đảng Cộng Sản VN.

Tuy ở chức Cố vấn, bản chất vốn ác và tham quyền cố vị, Mười vẫn muốn giữ chặt quyền lực trong tay, quyết đoán hết việc triều chính nên đến tháng 12 năm 2001, Mười bị Hoàng đế Đại Hán là Giang Trạch Dân lột áo mão, đuổi ra khỏi triều, truyền lập tức phải về quê làm thứ dân.

Mười về quê mang theo hơn hai mươi xe của cải, châu báu, đô la đã vơ vét được suốt thời gian cầm quyền, cầm dao đi “cải cách ruộng đất”, “cải tảo tư sản”, cải tạo công thương nghiệp”, bán bãi vượt biên thu vàng… xây dựng dinh thự nguy nga như cung điện vua chúa để ở.

Bạn đồng liêu là Anh Chột lúc đưa tiễn chúc mừng rằng: “Đồng chí đã hạ cánh an toàn”.
Tuy “phục viên”, Mười vẫn sống sung sướng như một đế vương xưa nay. Năm 2008, Mười đã 91 tuổi mà vẫn còn sung sức và dâm lắm. Hàng ngày dùng toàn sâm Cao ly và bào ngư vi cá, yến sào. Mỗi tháng Mười “bồi dưỡng” sức lực bằng hai lần ăn thai nhi hầm thuốc Bắc. Năm đó, Mười “hủ hóa” với một nữ hộ lý 45 tuổi và sinh ra được một đứa con.

Nhà thơ Nguyễn Duy Ân có bài thơ khen như sau:

Đỗ Mười sinh con mọn 
Đỗ Mười sắp ngủm vẫn còn gân
Sánh với dê, heo vượt bội phần
Hộ lý bốn lăm dù chẳng trẻ
So già chín mốt cũng tơ tân
Ngày ba, bồi dưỡng bơ cùng sữa
Tối bảy, tăng cường rượu với sâm
Chớ nghĩ hoạn Mười sắp xuống lỗ
Nanh dài, nọc nhọn vẫn mài đâm.

Có kẻ đọc chuyện “Ác nhân dị sử” này xong, thở dài, cảm thán rằng:
-Cả một Bộ Chính trị Trung Ương đảng cộng sản Việt Nam gồm toàn những tên ngu dốt cầm quyền cai trị, lại thêm hai tên Cố vấn, một tên hoạn lợn, một tên phu cạo mủ cao su lại càng ngu dốt tệ hại hơn nữa thì đất nước tất đi đến chỗ diệt vong, mất nước vào tay ngoại bang là điều hiển nhiên trước mắt, không phải ở đâu xa.

NGUYỄN THANH TY
5/02/10 – Tạp chí Xây dựng

ĐỖ MƯỜI – 100% MÁU BÔNSÊVICH, LẠI CÓ CHỨC, CÓ QUYỀN:

Năm 1978, Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam. Ông là tổng tư lệnh chiến dịch X-3, quyết tiêu diệt thành phần tư bản tư doanh (nay gọi là doanh nghiệp và và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể) tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai đế quốc Mỹ, diệt triệt để, diệt không nương tay…

1. Ông chỉ đạo: “Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta. Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng đổ mồ hôi sôi nước mắt kiếm miếng ăn…

Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn-sê-vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”

2. Học tập tinh thần bônsevich Đỗ Mười, nữ đoàn viên Lý Mỹ đã vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40,1978).

Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài, Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản!

Nhật ký Lý Mỹ khép lại vào 3h sáng ngày 25/3/1978 như sau: “Má đã yên tâm rồi. Còn mình lại càng yên tâm hơn khi gia đình mình đã chấm dứt quá khứ từ ngày hôm qua để chuẩn bị bước vào tương lai. Mình không còn mặc cảm với bạn bè, nhân dân lao động vì gia đình mình không còn sống bằng nghề bất chính. Mình đã đấu tranh, đã thực hiện được lý tưởng, mơ ước của mình. Hãy cất cao tiếng hát, hãy tiến lên. Không có gì ngăn cản được bước tiến của mình. Mình trở lại phấn khởi rồi, vui quá…”

3. Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng người của Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miền Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời Đỗ Mười bố trí cán bộ các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Đỗ Mười đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều kê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thành phế thải.

X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận: “Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.

Có lần nhà báo Trần Bạch Đằng được hỏi: “Hình như trong 63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, Đỗ Mười không để lại một tác phẩm nào?”. Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo: “Cha ấy để lại cho đời tác phẩm cải tạo công thương nghiệp, biến Sàigòn và miền Nam thành những vùng đất chết!” .

4. Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kể: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?” tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư, chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!”.

5. Về số phận của nữ Đoàn viên điển hình Lý Mỹ:

Cũng năm 1978, Lý Tích Chương, cha của Lý Mỹ bị bắt vì tội trốn đi nước ngoài, lúc đó, Lý Mỹ đang được đi Cu Ba dự Liên hoan thanh niên Thế giới. Khi về đến Sài Gòn, cô được vào trại giam thăm ba và ông được thả do sức khỏe suy sụp. Gia đình ông quyết định “ra đi”. Ông Lý Tích Chương gửi lại một người Hoa 10 lượng vàng, dặn cứ để Lý Mỹ nếm cực khổ, khi không chịu nổi nữa hãy đưa cô số tiền ấy để cô vượt biên.

Sau 1975, đêm nào Lý Mỹ cũng phải sống trong nước mắt, cảnh đời quay quắt, bị đòi nợ. Ngôi nhà cha mẹ để lại bị chiếm mất, thay vì phải đấu tranh để trả lại tài sản cho cô, Lý Mỹ lại được động viên, “lý tưởng Đoàn không cần tài sản”.

Năm 1985, không thấy Lý Mỹ vượt biên, người bạn của gia đình mới trao lại 10 cây vàng cho cô làm ăn. Đến lúc ấy, Lý Mỹ mới biết, chuyến vượt biên của gia đình thành công. Nhưng trong thời gian ở trại tị nạn Malaysia, ông Lý Tích Chương lâm bệnh. Vào đúng hôm gia đình được chấp nhận đi định cư ở Úc, ông Chương mất. Tuy Lý Mỹ đã không bỏ ViệtNam ra đi như gia đình cô tiên liệu, nhưng cô cũng không trở thành một Pavel Korchagin như ước mơ. Như một thanh thép đã được tôi, Lý Mỹ tự chọn lấy con đường cho mình. Cô nữ sinh điển hình trong chiến dịch cải tạo tư sảnnăm 1978, 30 năm sau, lại trở thành một nhà tư sản. Lý Mỹ hiện cùng chồng, hoạ sỹ Nguyễn Văn Vinh, sở hữu bốn công ty kinh doanh trong lĩnh vực truyền thông và xuất nhập khẩu. Cô đã làm những hành động “của tư sản mại bản” mà chiến dịch X-1, X-2, X-3 diệt trừ sạch bách trước đây!

FB BÙI QUANG MINH