Người Việt…

0
178

Nói nhỏ nhau nghe!

Việt tộc mình có cái “nợ” với Tàu nên cứ lầy nhầy hoài, lầy nhầy léo nhéo mãi. Chúng ta không thể chối được là dính đất với anh Tàu to lớn, hôi hám và dơ dáy này.

Trong lịch sử đất Việt tộc cứ bị Tàu tỉa từ từ, nuốt từ từ. Nam Việt đã mất, Lưỡng Quãng chỉ còn trong tâm tưởng.

Ngay cái tên Việt Nam cũng có mùi Tàu.

Thái Dịch Lý Đông A viết rằng: “Bao nhiêu những khinh miệt, vũ nhục, nhận vơ bóc lột, đau thảm đều nồng nặc như mủ đặc trong cái mụn nhọt Việt Nam đó”.

Chữ Việt là của Tàu gọi chung các dân tộc phía Nam

Âu Việt 甌越 thì ở Chiết Giang, Mân Việt 閩越 thì ở Phúc Kiến, Dương Việt 陽越 thì ở Giang Tây, Nam Việt 南越 thì ở Quảng Đông, Lạc Việt 駱越 thì ở nước ta.

Tất cả đều trong “Bách Việt” 百越 hết.

Dù ngày nay dân Quảng Đông kêu họ là Việt mà là chữ 粵Việt này, nhưng cũng là Việt hết.

Người Việt Nam thuộc hệ thống văn hóa Trung Hoa, xưa cũng tứ thư ngũ kinh, cũng ông Khổng và viết chữ tượng hình.

Dù chúng ta nói rằng Kinh Dịch là Kinh Việt, rằng trống đồng của dân tộc Việt, tuy nhiên hàng ngàn năm nay cái bóng Tàu nó phủ quá rộng baot rùm hết mọi lý lẽ.

Thành ra người Việt mang ơn, tri ân giáo sĩ Alexandre de Rhodes, các linh mục Gaspar do Amaral và António Barbosa.

Họ đã tạo ra chữ Quốc Ngữ để truyền giáo mà vô tình cho dân tộc Việt một chữ viết độc nhứt vô nhị.

Xưa Việt tộc không có chữ riêng nên xài chữ Hán Việt, chữ Nôm quá khó. Viết một đàng và nói một nẻo. Thành ra các cố đạo nghĩ cách phiên âm tiếng nói của người Việt ra và phiên âm lại bằng 24 chữ cái La-tinh.

“Chữ Quốc Ngữ phải trở thành chữ viết của đất nước. Phải như thế vì lợi ích và sự tiến hóa. Vậy, người ta nên tìm cách phổ biến thứ chữ này bằng mọi phương tiện…”(Trương Vĩnh Ký “Vần quốc ngữ” xuất bản năm 1876)

Và cũng nhớ người Pháp, họ là thực dân đi xâm chiếm VN nhưng nhờ họ Quốc Ngữ đã lên ngôi.

Chữ Quốc Ngữ được sử dụng, về mặt hành chánh, ở trong Nam trước, vì người Pháp chiếm Nam Kỳ trước (1862) và họ thúc đẩy việc dùng quốc ngữ trong Nam.

Một mặt khác, nhờ sự tiếp xúc với Pháp và văn học Pháp, người Nam cũng hấp thụ được tinh thần dân chủ của Pháp qua học đường và sách vở báo chí Pháp.

Những trí thức Tây học đầu tiên như Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Huỳnh Tịnh Của (1834-1897), đều thấm nhuần hai nền giáo dục : thủa nhỏ học chữ Nho, sau đó được các thầy tu đưa vào trường đạo học tiếng La-tinh và tiếng Pháp, rồi đi du học (các trường đạo) ở Cao Mên, Mã Lai.

Lịch sử Nam Kỳ nói riêng và VN nói chung ghi nhận nhiều sự tiến hóa, tỉ dụ từ chữ Hán, chữ Nôm ta có chữ Quốc Ngữ đó.

Từ uống thuốc bắc, thuốc nam sắc trong siêu ta uống thuốc viên kiểu Tây. Từ bịnh nằm nhà chờ thầy lang, bà mụ thì ta vô bịnh viện. Từ uống nước sông nước đìa ta biết nấu sôi lên uống…

Cái cách ăn mặc cũng tiến hóa. Hồi xưa đi đâu cũng áo dài.

Nhưng các bạn biết rằng áo dài là áo lễ phục, áo lễ nghi, nó là Quốc Phục đó, nhưng trong sanh hoạt không phải lúc nào mặc áo dài cũng tiện, thời tiết Nam Kỳ lại nóng bức, bức bối.

Thành ra áo dài nó xa rời đời sống thường nhựt bình dân lần hồi, áo bà ba thế nó, bà ba ban đầu là cái quần lãnh đen, áo bà ba màu, sau chơi nguyên bộ bà ba, sau đó các cô đi chợ mặc áo đầm, bộ đồ bộ xuất hiện.

Cái bộ đồ bộ Nam Kỳ cũng có xuất xứ từ bộ đồ bộ của người Tiều.

Đàn ông Việt Nam mặc áo sơ mi, quần tây, áo dài cũng vắng bóng từ từ.

Áo Dài chỉ còn trong lễ lạc, trong cúng tế, trong những công sở.

Đó là chuyện thông thường, bên Nhựt Bổn nó cũng bỏ Kimono, Hàn nó bỏ Hanbok, Tàu nó có ăn mặc kiểu cung nhơn ra đường nữa đâu.

Ăn mặc cái gì tiện là nó sống tốt. Đừng mặc bộ đồ ngủ ra đường là đặng rồi.

Ta đã thủ tiêu chữ Hán trong học đường và phải học chữ Quốc Ngữ.

Có Quốc Ngữ thì đã thành hình cái ranh giới vạch cái rột chia xa Tàu và Việt ra, từ đây chẳng ai hiểu ai, Việt không cần Tàu mà Tàu cũng không làm sao mà nghe ngóng Việt.

Chế độ khoa cử theo kiểu Nho bị bãi bỏ hoàn toàn ở Miền Đông Nam Kỳ sau khoa thi năm 1861 và ở miền Tây Nam Kỳ sau khoa thi năm 1864.

Cái thuở ban đầu chữ Quốc Ngữ khó lắm, Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… phải đương đầu với một sồ Nho gia hùng mạnh thủ cựu như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa…

Chữ Quốc Ngữ còn là đề tài “thù hận” giữa các tôn giáo, đạo Gia Tô một bên, và Nho, Lão và Phật một bên.

Chữ Hán Việt đâu phải của dân tộc ta, tổ tiên ta, người Việt học chữ Hán không những học viết thôi mà còn học đọc, học nghĩa, học tùm lum, tóm lại là học một ngoại ngữ.

Còn người Việt học Quốc Ngữ là học đọc và học viết tiếng mẹ đẻ, ngữ nghĩa và cú pháp của chính tiếng nói của người Việt.

Nhờ Quốc Ngữ mà Việt ta như cắt đứt với Tàu, cái dây lòng thòng ngàn năm coi như đứt, chỉ còn hoài niệm.

Mình không khôn, không sáng chế ra chữ thì phải xài chữ La-tinh, có gì mà nhục.

Con cháu Việt Nam ngày nay rất khôn lanh, ý thức Tàu và Việt rặc ròi, tỉnh táo. Người Việt cởi mở, hướng ngoại luôn ở tư thế đối nghịch với sự tham lam, thủ cựu, bá đạo, thủ đoạn dơ dáy, đạo đức giả kiểu Tàu của chánh quyền TQ.

Đó là vốn sống của chính dân Việt chúng ta.

Người Việt lúc nào cũng thức tỉnh trong dòng máu cội rễ mình một tinh thần dân tộc mãnh liệt một tình thương bất biến, một ý thức chánh trị rõ ràng.

NGUYỄN GIA VIỆT

======

Saigon 2/1969. Góc Alexandre de Rhodes-Pasteur, Trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa. Saigon girls February 1969 – source: johnrellis’ photostream.

Alexandre De Rhodes là nhà truyền giáo người Pháp được cho là đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ Quốc ngữ Việt Nam hiện đại. Nhưng thực ra đó là công của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, mà người đầu tiên phải là Francisco de Pina.

Điều thú vị là ở vị trí đối xứng với đường này qua Công viên Thống Nhất là con đường mang tên Hàn Thuyên. Ông được xem là người phát triển, phổ biến chữ Nôm của Việt Nam. Ông Hàn Thuyên là người đầu tiên dùng luật thơ Đường vào thơ Nôm, nên đời sau gọi thơ Nôm theo Đường luật là Hàn luật.

Saigon. Đường Hàn Thuyên trước Dinh Độc Lập. Vách tường vàng góc trái hình là góc Hàn Thuyên quẹo ra Nhà thờ Đức Bà.