Người Sài Gòn… xưa

0
186

Lần đầu tiên tôi lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y, bọn tôi chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi.

Ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cơm cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. Cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. Ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán mà bụng vẫn trống không. Nhỏ tới lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. Kêu thêm dĩa nữa thì không dám vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia…

Hai đứa ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. Thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. Vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.

Khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thi thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì hai đứa đâm lo, không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại: “Thôi, tính hai dĩa cơm thôi. Phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn chị không tính. Ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu”.

Chỉ có nải chuối đã cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp. Bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. Cũng trong những năm 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô. Mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng.

Lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. Thế nhưng vẫn ráng vì trong túi không còn tiền. Chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “Xích lô!”

Luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi:

– Anh chị đi đâu?

– Cho ra bến xe Miền Tây. Nhiêu?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe Miền Tây đâu mà cho giá. Thôi đành chơi trò may rủi: “Dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. Tới đó cho nhiêu thì cho”. Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. Người con trai nói: “15 đồng mọi khi vẫn đi. Cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “Em mới chạy xe, đi xa không nổi. Anh chị thông cảm đi xe khác giùm”. Ai ngờ người con trai ngoái đầu lại: “Tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. Thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. Đưa xe đây tui đạp cho. Tui cũng từng đạp xích lô mà!” Thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền. Không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người Sài Gòn mới khoáng đạt như vậy!

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. Già trẻ lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. Có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm. Có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. Đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất Sài Gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. Như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây: “Bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. Hỏi hoài mệt quá!”

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. Đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không. Với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn.

Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh xích lô đến hỏi tôi: “Về đâu?”, nhưng rồi chợt anh nói một câu mà tôi nhớ đời: “Lên đi thằng ông nội, tui chở về… Không có tính tiền đâu”. Làm sao tôi quên được câu nói đó. Người Sài Gòn là như vậy!

NHỊ NGUYÊN

***

NHỚ NỤ CƯỜI HÓM HỈNH…

Tôi còn nhớ như in, hồi cái thời bao cấp (năm 1981) lúc ấy tôi là phóng viên của Đài Tiếng Nói Nhân Dân TP.HCM giờ gọi là VOH. Mới vừa tốt nghiệp Đại học Khoa học Sài Gòn (Đại học Tổng hợp) 1980, được phân công về Đài, lương tốt nghiệp đại học là 60 đồng/tháng, nhưng thời đó phải mất 2 năm tập sự với mức lương là 52 đồng/tháng.

Cái thời đó, phải nói là con người ta bần hèn lắm, dường như cho gì ăn nấy, có gì mặc nấy… Tôi còn nhớ, những câu vè thời đó nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp:

 “Nhất gạo nhì rau
Tam dầu tứ muối
Thịt thì đuôi đuối
Cá biển mất mùa
Đậu phụ chua chua
Nước chấm nhạt thếch
Mì chính có “đếch”
Vải sợi chưa về
Săm lốp thiếu ghê
Cái gì cũng thiếu”…

Tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hằng ngày… Lương hàng tháng của công chức nhà nước chỉ nhận được một phần tiền rất nhỏ, còn lại quy vào hiện vật thông qua chế độ cấp phát tem phiếu và sổ gạo.

Hàng hóa thời đó vừa hiếm vừa thiếu, mà chất lượng thì quá là “cùi bắp”, đã vậy nhà nước còn cấm không được mua bán tự do trên thị trường như bây giờ, không được phép vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác.

Bởi vậy, khi làm phóng viên của Ban Nông thôn ở đài được phân công phụ trách địa bàn nông thôn, với chiếc xe đạp mini cà tịch cà tang, tiền bạc thiếu trước hụt sau, vỏ xe cũ rích mòn lẳng chưa có tiền thay, hôm đó trong túi không còn đồng bạc, lại được phân công đi Hốc Môn.

Lẽ ra, phải ứng tiền công tác phí, hoặc mượn đồng nghiệp vài đồng dằn túi, tôi lại ỷ y, xách chiếc xe đạp đạp tới xã Tân Thới Nhất, huyện Hốc Môn để săn tin. Lúc về, trời nắng chang chang, vừa đói vừa khát, về tới Gò Vấp xe cán đinh, bánh xẹp lép… trong túi không đồng xu ten, thế là tôi đánh liều tấp vào chỗ vá xe bên đường để vá, trong lúc ông thợ đang lui cui nại vỏ lấy ruột xe vá, tôi rút trong túi lấy gói thuốc Đà Lạt còn mấy điếu, vừa hút vừa nghĩ cách ăn nói sao với ông thợ sửa xe đây?

Sau khi vá xong, tôi hỏi bao nhiêu vậy ông:

 – 50 xu

 Lúc này tôi mới thú thiệt;

 – Ông ơi, tôi không có tiền, cho thiếu được không?

 Ông sửa xe, nhìn tôi cười tươi nói:

 – Ôi, không sao, cậu đưa tôi điếu thuốc Đà Lạt là xong…

 Đã 35 năm rồi, khi kể lại câu chuyện này, tôi vẫn không bao giờ quên nụ cười hóm hỉnh đầy tình cảm của ông sửa xe năm ấy….

Cái tình của người Sài Gòn là vậy đó.

 8 SÀI GÒN