Lời hứa bất thành!

0
387

Tay tôi giữ chặt lon guigoz ruốc xã đang nằm trong cái túi “mìn-claymore” đựng sổ sách đeo chéo bên hông mà lòng trĩu nặng nghẹn ngào! Muốn ngửa mặt lên trời mà thét vang cho đã tức đành ngậm ngùi lắc đầu ngao ngán, giữa chân mây núi rừng trùng điệp!

Tôi đã đến chậm một bước! Đoàn tù cải tạo đã chuyển trại trong một đêm trung tuần gần đây! Tôi nợ chú lon guigoz ruốc sả và lời gởi gắm đầy nước mắt lo âu của gia đình!

Cuối năm 1977.

Tôi lên làm việc tại nông trường sông Kol thuộc miền núi tỉnh Nghĩa Bình nay là tỉnh Bình Định. 

Ngày lên đường… 

Chiếc xe jeep ca-bô bầu mui bạt từ thị trấn Phú Phong lao đi trên quốc lộ 19, đến ngã ba trước mặt là đường lên đèo An Khê đi Pleiku – Phú Bổn, xe chúng tôi quẹo phải vượt qua cầu Vĩnh Thạnh , phải cố vượt khoảng năm chục cây số đường đèo- suối -dốc răng cưa mới đến được nông trường sông Kol cư dân toàn người dân tộc Ba Na .
Qua rất nhiều gập ghềnh đèo dốc suối đá hiểm trở cheo leo!

Xe đến nông trường bộ thì trời sụp tối . Cây đèn dầu leo lét trong văn phòng làm việc thêm mù mờ vì ám khói lâu ngày! Chú Hoàng phó giám đốc hỏi han về chuyến hành trình vừa rồi, và cho biết đi lại trên đây rất khó khăn cả tháng mới có một chuyến xe của nông trường về xuôi tiếp nhu yếu phẩm-lương thực, còn lâu lâu mới quá giang xe Reo chở gỗ lên xuống lâm trường, rồi từ đó còn phải lội bộ cả chục cây số mới xuống được bến xe xã Bình Quang…mỗi ngày chỉ một chuyến về thị trấn! Chú Hoàng cho biết vùng rừng núi “lam sơn chướng khí” này rất dễ bịnh sốt rét rừng!

-Cậu là thanh niên thành phố! Chưa quen khí hậu ở đây! nên sau khi ăn cơm buổi trưa xong không nên ngủ trưa vì dễ bị ngã nước sốt rét lắm! Đêm phải ngủ mùng chứ muỗi tha ngay! Bọn tôi là bộ đội nên quen đời sống kham khổ núi rừng rồi.

Buổi sáng đầu tiên trên miền núi cao thật thú vị .Sương mai còn dày đặc không khí rất trong lành, trời se lạnh tôi co ro trong chiếc áo kaki công nhân chú Hoàng gọi tôi:
– Đồng chí (tôi nghe rất lạ lẫm!) vào đây uống nước đã rồi từ từ ta băng suối qua nông trường vội gì! Chờ sương tan đã chớ qua suối nước lạnh cóng ngã bệnh đấy! Chú Hoàng khề khà đến tuần trà thứ ba thì đứng dậy với tay lấy cái mũ cối đội lên đầu cùng tôi qua nông trường, cũng vừa lúc sương mai tan dần trong ánh nắng. Ra đến bờ suối chú đưa tôi cây gậy tre để khi băng qua suối mà chống vì rong rêu bám lâu ngày trên những tảng đá lớn nhỏ rất trơn trợt!

Cảnh tượng suối rừng trùng điệp rất uy nghi hùng vĩ. Tôi đứng lại trên mỏm đá giữa dòng suối, nghe chú giải thích địa dư, thổ nhưỡng mà mở mang thêm kiến thức tầm mắt!
Đúng là “đi một ngày đàng ,học một sàng khôn”! Nhìn ngược dòng suối lên thượng nguồn cách đó chừng vài trăm thước là vách núi đá tảng chồng lên nhau cao ngất! Thượng nguồn sông Kol đây sao? Toàn vách đá làm sao mà lội ngược dòng được!

Vậy mà xưa kia truyền thuyết kể lại là ba anh em Nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ – Nguyễn Lữ chống thuyền ngược dòng sông Kol này, lên An Khê – An Túc mua bán đổi chác”cau- trầu sản- vật” rồi chiêu mộ trai tráng buôn làng, tráng đinh, lập ra khu “Tây- Sơn -Thượng -Đạo”. Có lẽ trải qua ba bốn trăm năm “vật đổi sao dời” dòng suối thời nguyên sơ đã xô đẩy dịch chuyển những khối đá làm bít thượng nguồn mất dấu vết ngược lên Tây- Sơn -Thượng – Đạo chăng!

Rất vất vả mới qua hết con suối chừng trăm thước tây là một vùng mênh mông xanh um cây thuốc lá và khoai mì trải dài ngút ngàn. Qua đến bờ suối là đồn trại công an quản lý tù nhân. Phía ngoài, một dãy láng trại dài là nơi ở của phạm nhân hình sự và ở xa xa phía trong vách núi là những mái lá chốn tạm dung thân của “ngụy quân – ngụy quyền” cải tạo hai khu riêng biệt!

Sau lưng láng trại là vách núi đá dựng đứng, trước mặt xa xa là dòng sông Kol ở dưới sâu cả trăm thước với toàn đá tảng, rơi xuống là tan xác ngay nghe Đĩnh là tù nhân gần mãn hạn kể lại anh em tù đặt tên đây là “vực giải thoát “! Đã có nhiều tù nhân uất ức quẫn trí tự tử ở vực thẳm này! Xác bị thú dữ xâu xé, tự phân hủy và tan rã sau một vài cơn mưa rừng nhiều đêm mưa gào gió hú nghe như tiếng khóc than oan khuất vọng lại từ đáy vực tôi nghe mà lạnh xương sống rùng mình!

Chú Hoàng cho biết nông trường khép kín không có lối ra, muốn ra phải lội qua suối khi công tác trong nông trường sẽ có công an theo bảo vệ. Chú Hoàng còn dặn thêm:
– Anh em khi công tác có các đồng chí công an bảo vệ và không được tiếp xúc với tù nhân, nếu có vì yêu cầu công tác thì chỉ được phép trao đổi về nghiệp vụ thôi nhé!

Tuần lễ trôi qua. Tôi mau chóng hòa nhập trong công việc chỉ đạo thu hoạch lá thuốc với anh em tù nhân hình sự và một ít tù “chính trị” được phân công tôi chiếm được sự cảm mến của họ và của anh em công an quản lý trại. Tuần lễ sau, quen dần tôi đi sâu vào phía trong rẫy thuốc lá và lân la bắt chuyện hỏi han lúc đầu là những ánh mắt nghi ngại nhưng rồi dần dà họ nhận ra trong ánh mắt của tôi và trong cách cư xử ẩn chứa chất hào sảng Nam Bộ “bất xuất nhơn hạ mã !” Họ tìm cách gần tôi qua ánh mắt dù lúc nào anh công an ở xa xa cũng chăm bẵm theo dõi ngăn chặn tiếp xúc hơn là để bảo vệ! Khi ra về tôi thường giả bộ để quên lại gói thuốc rê với giấy pelure cắt sẵn hôm thì quên lại gói đường tán có lần tôi cố quên luôn cái áo kaki công nhân còn mới đem theo xếp gối đầu nghỉ trưa trong láng trại.

Một hôm mảnh giấy vo tròn như viên bi của ai đó vừa cố ý quăng xuống trước mặt tôi lăn vào gốc cây thuốc lá đang thu hoạch, tôi như vô tình lấy chân đẩy nhẹ cho nó chui nằm dưới lá thuốc úa khô chuẩn bị lặt khỏi gốc lâu sau tôi cúi xuống lặt lá thuốc cầm luôn viên bi giấy âm thầm đút túi có đôi mắt tỉ mỉ của ai đó nhìn theo động thái của tôi và thầm tin tưởng cảm ơn …

Cuối tháng tôi lại khấp khởi vui mừng chia tay anh em tù nhân đã cộng tác lây nay:
– Chào các chú với anh em nhen, cuối tháng “mậu lúi” rồi! Về bơm thêm vitamin T khi có xe thì lên lại, anh em giữ gìn sức khỏe làm việc nghen “yên tâm mọi chuyện!”

Tôi băng suối về lại nông trường bộ ngủ lại một đêm trong thao thức, mới tờ mờ sương còn dày đặc tụi tôi hối thúc nhau sắp xếp leo lên chiếc xe jeep về xuôi mang theo lời hứa quân tử – bất thành văn!

Về lại Sài Gòn. Đô thành tráng lệ ngày nào của tôi đây sao! Bây giờ càng ngày càng xơ xác tiêu điều, những ánh mắt xóm làng thị dân nhìn nhau thương cảm không dám nói nên lời, những cái lườm ngó nhau nghi ngại, ngờ vực! Những câu chào hỏi thường ngày cũng ngại ngùng tránh né, những lần tiếp xúc thưa dần lòng người Sài Gòn thân thiện – chan hòa – cởi mở ngày nào theo thời gian bay vào dĩ vãng! Tôi buồn bã buông xuôi theo dòng đời vận nước “ba chìm bảy nổi” mặc cho guồng máy xã hội trôi chảy chỉ quyết giữ lại cho tâm mình cái cốt cách Sài Gòn “hào sảng Nam Bộ” cố hữu xưa nay GIỮA ĐƯỜNG GẶP CHUYỆN BẤT BẰNG CHẲNG THA!

Tôi lần theo địa chỉ , tìm qua nhà chú Lực nhà trong con hẻm nhỏ đường Hòa Hưng, đường đi vào khám Chí Hòa. Tôi tần ngần trước căn nhà hiu quạnh, dè dặt gọi nhỏ:
– Dạ, có ai ở nhà cho tôi hỏi thăm chút nghen!
Người đàn bà khoảng ngoài bốn mươi nét mặt buồn lo âu sợ sệt …
– Cậu hỏi gì ?
– Dạ, phải nhà chú Lực không ạ!
Ngập ngừng đôi chút …
– Không, không phải đâu ở đây không có ai tên đó cả, thôi cậu đi.đi! Bà ta nói như xua đuổi rồi quay vào…
Tôi tần ngần nói theo…
– Chú Lực chỉ rõ ràng mờ!
Rồi lưỡng lự chậm rãi quay ra đường được vài bước chân thì quay lại nhìn vào vì còn thắc mắc!
Trong nhà có cô gái mở cửa chạy ra nói nhỏ:
– Anh! Đúng rồi anh, nhưng sợ lắm! Anh ra trước hẻm chờ tui chút nghen! Nhớ đi theo sau lưng xa xa nghen, sợ công an theo dõi!
Tôi mừng quá! đã đúng địa chỉ ủy thác rồi. Ra đầu hẻm đứng chờ, lâu sau cô ta đi ra, qua mặt tôi, cô ta tằng hắng từ từ tôi theo sau xa…cô ta ra đường Lê Văn Duyệt chậm rãi quẹo về hướng Quân vụ Thị trấn rồi băng qua đường vào con hẻm sát bên hông Cư xá Hỏa xa dẫn ra đường rầy xe lửa đứng chờ tôi!
– Anh đừng buồn má tui chuyện hồi nãy! Má tui sợ lắm! Chính quyền đòi tịch thu nhà cửa bắt nhà tui đi kinh tế mới hết, vì gia đình tui là “ngụy quân “mà nên hoang mang lo sợ lắm! Má tui sợ anh là tụi 30 tháng 4!
– Không sao! Tôi hiểu mà tui đi làm ngoài tỉnh Nghĩa Bình lên trên núi lận, tình cờ gặp chú Lực đang lao động cải tạo.
Cô ta hỏi vồn vã tôi không kịp trả lời:
– Ba tui giờ sao rồi anh! Nghĩa Bình là ở đâu anh! Xa không anh! Như tui đi đến đó được không anh!
– Xa lắm cách mình cũng hơn tám trăm cây số chớ chẳng chơi! Chú Lực nhờ tôi đưa giúp về nhà cái này. Tôi rút trong bóp mảnh giấy đã vuốt thẳng thớm đưa cho cô gái.
Cô ta xúc động cầm cẩn thận bằng hai tay giở ra xem rồi ép mảnh giấy vào ngực kêu lên khe khẽ: “ba ơi”! Rồi nước mắt chảy dài trên khuôn mặt ngăm đen méo xệch tôi quay đi không dám nhìn.
– Chú Lực ốm đen, trông thiếu thốn nhưng thấy chú cũng khỏe, chú có nét can trường chịu đựng lắm!
– Ba tôi là sĩ quan tác chiến.mờ! Ổng thương con cái lắm, nhưng ít khi về nhà vì chiến trận liên miên, tội nghiệp má tui lắm! Rồi khóc huhuhu tui về kể lại cả nhà tui mừng phải biết, nhất là má tui nghe vậy là ngủ không được, bịnh nữa!
– Tôi đi làm có công an theo bảo vệ nhưng đúng ra là sợ tôi tiếp xúc với mấy chú cải tạo…nên muốn giúp đỡ ai cũng phải dè dặt, khó lắm!
Hai đứa tôi ngồi trên hai thanh đường rày xe lửa đối diện nhau mà trò chuyện.
Con gái chú Lực cho biết tên là Thủy, khuôn mặt có nốt ruồi đen bên phải sống mũi, có duyên dễ nhìn, nước da ngăm đen trước 1975 học Gia Long, giải phóng vô đành nghỉ học vì lý lịch, phụ mẹ bươn chải kiếm sống nuôi cả nhà qua ngày và lo cho người cha đang cải tạo không biết ngày về.
– Nhà tôi trong hẻm 40 Nguyễn Thông nè! Gần đây cũng dễ tìm thôi ! Tôi tên H làm hãng thuốc lá Bastos bên Vĩnh Hội, theo yêu cầu chuyên môn nên đi làm tận ngoài trạm Nghĩa Bình thời gian , mà bây giờ có chỉ đường cũng không ai đi được đâu xa lắm! Mà không có xe miền núi mờ! Phải đi bộ đường rừng núi cả chục cây số nguy hiểm trắc trở lắm!
– Anh có trở lại đó hông!
– Tuần tới tôi đi lại nhưng đợi cuối tháng mới có xe lên trển! Xong đợt thu hoạch này là tôi về luôn!
– Anh cho nhà tui gởi cho ba tui ít đồ được hông!
– Được chớ, chỉ sợ không có xe rồi lên không kịp thì thức ăn bị hư mốc uổng, vì cuối tháng mới có chuyến xe về chở thực phẩm lên xa xôi hẻo lánh lắm!
– Anh đừng qua nhà tui nghen! Chiều chủ nhật giờ này hẹn gặp lại anh ở đây nghen! Anh ráng giúp giùm tui nghen, tội lắm. Rồi Thủy chặc lưỡi, mím môi, nước mắt lưng tròng!
Tôi gật đầu …
– Ừa đúng hẹn mà “nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy”!
Rồi cả hai chia tay quay lưng đi về hai phía cùng mang nỗi lo âu man mác trong lòng!

Chiều chủ nhật, tôi đợi chỗ cũ ngồi trên đường rày tay tìm những viên đá xanh nho nhỏ ném ra xa suy nghĩ mông lung cái số mình bắt phong trần phải phong trần” mà!
Thủy đến chào tôi hỏi vu vơ vài câu xã giao rồi đưa cho tôi gói quà là lon guigoz ruốc sả và năm chục đồng tiền giấy…
– Nhờ anh gởi giúp cho ba tui phòng thân, nhà tui lâu nay cũng kiệt quệ lắm anh, toàn độn bo bo – khoai- sắn nên chỉ gởi có nhiêu đây mà không biết khi nào ba tui mới được về nữa!
Thủy nói xong lại rươm rướm nước mắt và quay mặt đi.
– Tui nhận lon ruốc xã thôi, còn tiền để đó, khi lên gặp chú tui tìm cách đưa cho tui có tiền lương đem theo mờ! Khi về rồi tính sau đừng ngại!
– Vậy thì cám ơn anh nhiều lắm, đúng là có “quế nhân phù hộ ” chúc anh thượng lộ bình an nghen!
– Không có gì đâu khi về tôi sẽ ghé nhà Thủy báo tin cho biết!

Hai chúng tôi chia tay trong nắng chiều hanh nồng giữa những thanh tà vẹt vô tri lởm chởm đá xanh bên dưới và đường rày song song vô định tôi cầm chặt lon guigoz trong tay và suy nghĩ đến con đường lên vùng núi cao xa hiểm trở và cuộc sống của những tù nhân như những bóng ma âm thầm lầm lũi giữa chân mây núi rừng!

Cả tháng sau…
Lon guigoz ruốc sả mới chính thức có mặt tại nông trường sông Kol… Vụ thuốc lá đã thu hoạch gần xong, khu ruộng mì cũng đã nhổ sạch chỉ còn lại thân cây được chất thành đống. Trước mắt tôi là một vùng đất xơ xác tiêu điều, những láng trại xa xa giờ đây hiện lên rõ mồn một không bóng người lai vãng, giữa núi rừng một nỗi sợ hãi len lén trong lòng , bất giác tôi rùng mình. Tôi đứng như trời trồng giữa chân mây núi rừng cô quạnh ngậm ngùi cho thân phận con người! Rồi xót xa, tôi còn nợ chú lon guigoz ruốc sả và lời nhắn gởi đầy nước mắt của gia đình họ!
… … … …

Tôi đem lon guigoz ruốc sả về lại Sài Gòn để mong gởi lại cho gia đình chú Lực. Khi vào con hẻm, tôi ngơ ngác không tin vào mắt mình vì căn nhà hôm nào tôi ghé, giờ đây lại treo bảng “Tổ công tác Cải tạo công thương nghiệp phường”! Nhiều thanh niên đeo băng đỏ hớn hở lăn xăn ra vào. Tôi dò hỏi những nhà chung quanh mới biết đang trong giai đoạn chiến dịch đánh “tư sản mại bản – cải tạo công thương nghiệp” cả nhà Thủy đã bị bắt đi xây dựng vùng kinh tế mới Minh Long – Chơn Thành cả tháng nay rồi!

Tôi cầm lon guigoz ruốc sả tiu nghỉu quay về mà lòng trĩu nặng suy nghĩ tôi quay lại nơi gặp Thủy chỉ có hai đường rầy song song vô tận không có điểm giao nhau.mà bước đi nặng nề trên những thanh tà-vẹt lạnh lùng vô tri, đoạn đường rầy mà mới đây Thủy đã gởi tận tay tôi chút quà trọn niềm tin tưởng!

Tôi âm thầm bước đi mà lòng miên man suy nghĩ như tơ vò…trăm mối! “Lời hứa bất thành”. Chỉ mong một ngày tình cờ gặp lại Thủy trong hoàn cảnh sáng sủa hơn giữa đất Sài Gòn yêu thương.

Nắng chiều hiu hắt dưới chân cái bóng tôi lẻ loi ngã dài theo từng bước độc hành!

Hắt hiu thôi cũng là hiu hắt
Ngày tháng ôm quanh những mỏi mòn 
Ngửa mặt ta cười như ứa máu
Điệu buồn chim hót rụng đầu non!

(Quan San)

TRƯƠNG HÙNG