Làm cách nào cho học sinh thích học môn sử?

0
325

Tôi từng viết, ngay từ cái vụ học sinh xé đốt tài liệu ôn thi lịch sử cách đây hơn 10 năm, rằng không chỉ môn sử mà nếu là môn văn, tình trạng vẫn tương tự. Môn sử thì học sinh phải học thuộc lòng vô số sự kiện, con số, còn đánh giá lịch sử thì chỉ có ăn theo nói leo.

Trong khi môn văn thì rơi vào tán nhảm, chẳng theo một logic khoa học nào. Cả hai đều chán như nhau. Do tán nhảm dễ hơn thuộc lòng, nên môn văn điểm ít bị liệt hơn môn sử chứ không phải học văn thích hơn học sử. Không tin cứ điều tra khách quan từ phía học sinh.

Thích học môn này mà không thích học môn kia là chuyện hiển nhiên của người học. Làm gì có chuyện học sinh thích học tất cả các môn? Năng lực phát triển theo thiên hướng. Lẽ nào con cá lại thích bay lên trời?

Theo tôi, tri thức phổ thông là bắt buộc ở mức tối thiểu. Nhiều môn không thích cũng phải học vì đó là thước đo của một trình độ văn hóa. Tất nhiên, muốn cho học sinh thích học môn của mình hoàn toàn thuộc vào năng lực sư phạm của người thầy. Thầy năng lực kém thì môn học có thú vị mấy đi nữa học sinh vẫn chán, dù Bộ có làm một trăm cuộc cải cách với những dự án ngốn hàng ngàn ngàn tỉ.

Lý do anh Nhạ đưa ra để giải thích học sinh kém môn sử là vì có sự phân biệt, kỳ thị giữa môn chính và môn phụ. Theo tôi, đã là tri thức phổ thông thì không có chuyện môn này chính, môn kia phụ. Sự khác nhau giữa các môn học là do dung lượng tri thức chứ không phải do môn nào quan trọng hơn môn nào. Việc phân biệt môn chính môn phụ là lỗi của quy định từ Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chẳng hạn, cho tới nay vẫn duy trì việc đánh giá ưu tiên hai môn Văn và Toán để xếp loại học tập đã tạo nên tâm lý phân biệt chính, phụ. Nếu đã ý thức như anh Nhạ thì cần phải giải ngay cái trung tâm đã gây ra định kiến này và ra văn bản yêu cầu đánh giá xếp loại học sinh dựa trên sự bình đẳng giữa các môn học.

Nói do môn sử là phụ nên cả thầy lẫn trò coi thường môn học này là nói sai. Lâu nay, các môn Hóa, Lý, Sinh, Ngoại ngữ… cũng đều là môn phụ, nhưng tại sao nhiều học sinh vẫn thích học và có rất nhiều học sinh giỏi?

Tôi cho rằng, điều chi phối sâu sắc đến dạy và học hiện nay vẫn thuộc về nhu cầu xã hội. Những môn phụ trên học sinh vẫn thích học và học giỏi là vì chúng gắn với nhu cầu xã hội, cụ thể là công việc tương lai. Điều đó dẫn đến hiện tượng môn văn dù là chính trong chương trình vẫn không hứng thú đối với học sinh.

Nói ra các thầy dạy văn đừng buồn, rằng hiện nay học sinh học giỏi văn ở phổ thông thường ít nộp hồ sơ dự tuyển vào đại học ngành văn, và hậu quả là, học sinh không thể học gì được thì mới vào ngành văn! Và ngành sử cũng vậy thôi!

Điều đó cho thấy người Việt càng ngày càng thực dụng. Lỗi không bởi tại người học mà bởi xã hội chúng ta phát triển lệch lạc. Công việc và tiền bạc là động lực, khi nào ngành văn hay sử dễ xin việc hay làm ra tiền như những ngành khác thì mới có động lực học tốt chứ không phải lý do nào khác.

Còn đối với nội dung học sử là cả một câu chuyện dài. Tôi cũng đã từng viết, nếu học sử mà chỉ ngợi ca chiến công thì rất nhạt nhẽo, học rồi trôi tuột mất. Chiến tranh là bi kịch, sử khách quan phải nhìn thấy cả những thất bại và đau thương thì nó mới thấm vào trong lòng người để con người yêu hòa bình và sống nhân văn hơn.

Người làm sử không phải khơi dậy nấm mồ quá khứ để tự hào từng cục xương oai hùng mà làm hiện hình cả máu tươi đau thương và sống động của cha ông làm bài học cho hiện tại và tương lai. Cho nên học sử đâu chỉ học sử dân tộc mà còn phải học cả sử thế giới.

Và nữa, lịch sử là cả chiều dài liên tục của một quốc gia, dân tộc, sao cứ phải học và thi sử hiện tại để chỉ ngợi ca ông nọ bà kia trong một lát cắt không đầu không đuôi thành một thứ lịch sử què quặt?

Nhắc lại điều tôi từng viết và từng gây sóng gió. Rằng vì sao đọc sử Tàu thích hơn sử ta? Vì sử của Tàu có thể rút ra được bài học cho ta, còn sử ta thì chẳng rút được bài học gì. Mấu chốt là cái tầm nhìn nhận lịch sử của nhà viết sử. Sử mà chỉ viết dưới dạng biên niên và đánh giá ăn theo nói leo quyền lực thì học sinh lớp 3 cũng thành giáo sư, ông Vũ Minh Giang ạ!

CHU MỘNG LONG