Giọng nói miệt vườn miền tây…

0
2385

Văn hóa – Đời sống:

Đi Tìm Những Yếu Tố Văn Hóa Miền Nam Kỳ Lục Tỉnh

Bạn đi về miền Tây, bạn bắt gặp những điều hơi là lạ nếu bạn chưa từng đặt chưn tới vùng đất nầy:

Xin kể bốn câu chuyện:

1. Một người có con gái đặt tên là Loan, nhưng bà luôn luôn kêu tên con gái là con Lon khiến nó mất vui.
2. Tôi đi xe buýt Sài Gòn qua Tân Thuận để tới Miểu Bà Chúa Xứ 2, xuống bến xe anh bán vé nói tôi còn phải đi một tiếng nữa thiệt ra là đi một tuyến nữa.
3. Người miền Trung, hay cả dân Sài Gòn xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu được mời ăn cơm gan tưởng là ăn cơm với gan heo, gan bò gì đó, té ra không phải; họ cho ăn cơm chẳng có gì hết, vì là cơm rang.
4. Một cô nữ sinh trung học hồn nhiên xin thầy giám học cho em nghĩ ngày mai vì vú em đau, thiệt ra em không đau gì hết mà là mẹ em đau.

Ba chuyện đầu thuộc nhóm ngôn ngữ, chuyện sau là chuyện liên quan đến danh từ gọi người thân trong gia đình. Vú do biến thái từ chữ nhũ mà ra… cũng vậy những tiếng gọi người thân trong gia đình thường là những tiếng hơi lạ lạ: A chệt, hia, tỷ, chế, xím, má, cữu, nứng… Đó là ảnh hưởng của người Triều Châu ở nhiều vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu..

Nếu đi xuống miền Tây ta sẽ thấy những chuyện là lạ:

Ta thấy người lớn ăn cơm xong xá xá đặt đôi đũa ngang chén cơm, hai tay cầm chén lên xá xá vài ba cái rồi mới để xuống. Sự kiện nầy do ảnh hưởng của Phật Giáo Tứ Ân. Nói về Tứ Ân thì có thể 6, 7 chục năm trước chúng ta gặp những người đàn ông lớn tuổi để râu, tóc, bận áo dài, nói chuyện có khi dùng tiếng lạ như: Ngọt thay vì đường, xá thay vì đường đi. Họ hiền lành và ở trong nhà có thờ tấm trần điều… họ thích đọc sấm giảng và thơ Sư Vãi Bán Khoai, họ đọc cuốn Kim Cổ Kỳ Quan (không phải Kim Cổ Kỳ Quan của Tàu mà là một tác phẩm dầy nguyên viết bằng chữ Nôm nói về tu hành, và tứ ân trọng kính).

Ta thấy bàn thông thiên (hay bàn ông thiên), những cái trang thờ ông bà tổ tiên bên cạnh trang thờ Quan Vân Trường. Cũng là ảnh hưởng của người Minh Hương từ nhóm Thiên Địa Hội trốn tránh nhà Thanh mà đến xứ nầy…

Về thức ăn thức uống có những thứ bánh cống, bánh xèo, bánh tôm chiên, và nhiều thứ bánh khác ở Sóc Trăng, hủ tíu Nam Vang, hủ tíu Mỹ tho..

Về quần áo mặc có áo bà ba, có quần lá nem, có xà rông, có khăn rằn đội đầu… , mặc quần lãnh Mỹ A.. là ảnh hưởng của dân bản địa và những gì từ dân đa đảo phía Nam đi tới đã lâu.

Tiếng nói có sự nói không chịu sự cố gắng để phát âm: Tiến (Tuyến), lon (loan) tiền (tuyền) hay chữ /r/ bị biến thành /g/ … hay tiếng mình ên (một mình), tiếng huốt (qua rồi), tiếng nhóc (nhiều quá) vú (mẹ)… Đó là sự khác nhau của văn hóa Đồng bằng Cữu Long và văn hóa của người Sàigòn.

Còn nhiều lắm, những yếu tố đặc biệt mà riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long mới có:

Những thứ đó tôi gọi là những yếu tố văn hóa của đồng bằng sông Cửu Long hay của vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh. Sống trong vùng gọi là đồng bằng Cửu Long thì không lạ với những thứ đó vì đã quen với những chuyện nầy, nhưng nếu sống ở Sài Gòn, hay sanh trưởng ở Miền Đông chắc chắn sẽ lạ khi gặp lần đầu tiên.

Và ông Trần Văn Chi đã có công ghi lại những điều tôi gọi là yếu tố văn hóa của đồng bằng Cửu Long trong hai tác phẩm của ông. Cách viết của Trần Văn Chi không phải là cách viết theo khảo hướng nghiên cứu của quý ông Đào Duy Anh, Toan Ánh, Cữu Long Giang hay của những học giả Tây phương. Đặc biệt, Trần Văn Chi viết mỗi yếu tố thành một bài ngăn ngắn. Người đọc thấm hết những bài ngăn ngắn đó thì ngộ ra rằng: Ờ thời văn hóa miệt đồng bằng sông Cửu Long khác với văn hóa của vùng khác. Ông không giải thích yếu tố nào chịu ảnh hưởng từ đâu như tôi nói ở trên, đối với Trần Văn Chi chuyện đó không cần thiết.

Ta có thể kể sơ lược tính chất tinh thần trong văn hóa đồng bằng sông Cửu Long theo Trần Văn Chi, mặc dầu ông nói phớt qua:

– Dễ có tình thân hữu, Trần Văn Chi gọi là ôn hòa, thực tế:

Ta tới nhà ai thì thường được mời cơm nước: Có gì ăn nấy. Nếu trong nhà có người đàn ông sồn sồn thì thế nào cũng được mời rượu đế. Nhà hơi khá thì thế nào cũng bắt gà, và dĩa lòng đưa lên đám đàn ông nhậu lai rai trước. Tình thân đó đươc biểu lộ trong câu ca dao: Tới đây mượn chén ăn cơm, mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi…

– Lòng nhân nghĩa sắt son:

Chuyện tiền tài như phấn thổ, chuyện Vân Tiên đánh Phong Lai rồi không nhận tiền bạc biểu lộ cho nguyên lý tình nghĩa mới quan trọng, ngoài ra thì chẳng có gì đáng nói: Lòng qua như sắt, nói chắc một lời. Bạc tiền chẳng trọng, trọng người tình chung hay: Ngọc lành ai lại bán rao, chờ người quân tử em giao nghĩa tình. Chuyện Bạn bè mỗi lúc mỗi đông, Thạch Sanh thì ít, Lý Thông thì nhiều không phải là chuyện thường thấy ở đồng bằng sông Cửu Long.

– Lòng người đơn giản, thành thực, Trần Văn Chi gọi là tính hiếu khách.

Sự làm màu mè, muốn lắm mà em hổng chịu đâu, đói bụng muốn rã rời đến nhà ai được mời ăn cơm thì luôn miệng nói dạ con ăn cơm rồi, con tới chơi thôi không ăn cơm đâu là câu nói lơi không phải của dân đồng bằng sông Cửu Long. Người ở đây chỉ cần nói Dạ, xin phép bác là xà vô, dầu nhà đó mình đương ngấm nghé con gái người ta. Chỉ cần thêm đũa thêm chén là đủ.

– Lòng trung hiếu:

Ở vùng nào của nước Việt, người ta cũng lấy trung hiếu làm đầu, nhưng ở vùng NKLT, lòng trung hiếu được nhắc nhở nhiều trong ca dao và sách vỡ: ‘Ngó lên rừng thấy cặp cu đương đá, ngó dưới biển thấy cặp cá đương đua biểu anh về lập miễu thờ vua, Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha’.

Những đặc tánh tinh thần nầy nếu phân tích chi li hơn ta còn có thể kể thêm nhiều nữa, nhưng tựu trung ta thấy vùng NKLT là nơi sanh sống của những người thuần hậu hiền lương của những thế kỷ trước mà hiện nay đã mờ nhạt đi nhiều do hoàn cảnh xã hội đổi thay, do luồng gió độc hại từ nơi nầy nơi kia thổi vô.

S.T

Bàn thêm:

Nói về Văn chương Chữ nghĩa (Văn nói) của Nam kỳ Lục Tỉnh thì còn nhiều lắm các bạn! Tui xin nhiều chiện thêm cho dui:

– Không phân biệt được dấu hỏi, ngã: hồi nhỏ đi học bị viết sai chính tả hoài, giờ …cũng đỡ hơn chút xíu hôi!

– Không phân biệt được chữ r (giờ còn ít thôi), d, v, gi, thí dụ: dõ dàng là dú heo dòn, dai (rõ ràng là vú heo giòn, dai), vái thì cứ nói là d…! Nên cứ hôm nay cúng cô hồn ai vái to ra vái thì thành hôm nay cúng cu hồn ai d… to ra d …!, chữ r thì đọc thành g: bắt con cá gô bỏ dô gổ nó nhảy kêu gột gẹt (con cá rô nhảy kêu rột rẹt) hoặc tối hôm qua con “gái” cun dô mùng tao sợ quá chờ! (hóa ra là con rái cá)!

– Không phân biệt được chữ x, s, thí dụ: Xứ xương mù (xứ sương mù) nên có chuyện vui có Ông Thầy Miền Bắc dạy hoài HS NKLT cũng không hiểu nên mới hình tượng x là sờ bướm (vì lúc đó chữ x viết như 2 chữ e, trái chiều giống con bướm) dùng cho xấu xa; s là sờ chim (lúc đó chữ s viết có nét uốn cong trên đầu như con chim) dùng cho sung sướng. Nói tóm lại chỉ cần nhớ: sờ bướm  (x) là xấu xa; sờ chim (s) là sung sướng thôi!

– Không phân biệt được có dê (g), hay không có dê; có ê hay không, thí dụ: hàng – hàn; quang – quan; hoan – hoang; tiến – tiếng; chim – chiêm (tòa hỏi bị cáo tên Chiêm): Cô có chồng chưa: Dạ có rồi; bị cáo tên gì? Dạ tên “Chim”; Chim có ê không? bị cáo e ấp trả lời lúc mới lấy chồng thì có ê giờ… hết rồi! Hoặc như có cô gái người Nam đến cổng Cty hỏi gặp người bạn trai tên Quang nhưng cô nói giọng miền Nam nên bác bảo vệ miền Bắc nghe không phân biệt hỏi kỷ lại: Ở đây có nhiều “Quang” Cô hỏi “Quang có cu (Q) hay không (Hoan), có dê (G) hay không (Quan, Hoan) hoặc có dê không cu (Hoang),có cu không dê (Quan). không cu không dê (Hoan)! Cô gái bẻn lẻn: Dạ anh đó vừa có cu, vừa có dê (Quang)! Kể chuyện: Hôm qua tao đi đám cưới con Lon lấy thằng Hủ con ông Lu

– Chữ kh khi ráp vần ngược thì nói thành ph, thí dụ khuya: phia; khỏe không: phẻ hôn …

– Chữ có ráp vần ngược thì nói đơn giản lại cho khỏi cong vẹo cái lưỡi, thí dụ: Tuyền: Tiền; Loan: Lon; Tuyết: Tiếc; Hoài: Quài; Hữu: Hủ; Tuân: Tưng; Tuẫn: Tửng…! Nên có những trường hợp khai sinh cười ra nước mắt: Nguyễn thị Hoa thành Nguyễn thị Qua, cùng người đi khai nhưng thằng anh là Trần văn Tuân, thằng em là Trần văn Tửng (thật ra ý ba nó là đặt Tưng và Tửng do cán bộ sau có trình độ hơn, hỏi cặn kẻ hơn!) Nhưng không nghiêm trọng bằng ghi sai họ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc chia gia tài, khai sinh con cái… như vừa rồi có vụ Tòa xoi, bác quyền lợi vì không giống họ Cha: Cha họ Nguyển (dấu hỏi) con họ Nguyễn (dấu ngã)! Quê mình có trường hợp Ông này người Hoa họ Khưu, Ô Xã không biết viết thế nào nên ghi là Khâu báo hại giờ Ổng và con cháu… Khâu toàn bộ!

– Chữ tr nói thành ch, chữ v ngoài nói thành d như mắm và rau hay mắm dà rau (lùa bằng đủa vô miệng) không biết cái nào đúng, đi về thành đi dìa, đi với thành đi dí (nó đi chơi dí bạn trai nó rồi con!). Như hôm qua tìm rau dương xỉ ở VN tui khổ sở vì chuyện nói trạy đi vì rau choại thàng rau chay, chọi (loại bò trên cây); loại đứng dưới đất thì gọi rau dớn, ran ráng, dán… mà giờ tui cũng không biết tên nào đúng!

– Tréo nghoe: Con lợn gọi là con heo nhưng bánh thì bánh da lợn; trên chiếc xe đạp phụ tùng nào ngoài Bắc gọi bằng tiếng Tây thì trong này gọi bằng tiếng Việt và ngược lại! Như: Bắc Gạc đờ bu (chắn bùn) Nam: dè (Vè); Bắc: xích; Nam: sên …
– Vui nhất là các vị bô lão ở nông thôn thì cứ quan niệm phải là người Nam kỳ lục tỉnh mới là Người “Diệc” (Việt) ! Thí dụ: Thằng chồng con đó không phải người Diệc, nó người Trung hay người Bắc gì đó!

– Và còn nhiều nữa! Bạn tìm đi…!

TRAN VAN PHUNG