Giáo chức thời ấy…

0
447

THẦY GIÁO THUỞ GIAO THỜI

Tôi bước chân vào nghề giáo trong một nhà trường tư bản chủ nghĩa, ngôi trường thơ mộng nằm giữa đồi thông, phía trước là hồ Vạn Kiếp mà cuộc đời bể dâu đã biến nó thành vùng thung lũng chuyên canh rau, chỉ còn con lạch nhỏ làm chứng tích của một cái tên đã đi vào dĩ vãng – trường Trần Hưng Đạo, một trong 2 trường công lập tại Đà Lạt dành cho nam sinh (còn một trường công lập thứ hai dành cho nữ sinh là trường Bùi Thị Xuân), nơi tôi đã từng là học sinh rồi sau trở thành thầy giáo của trường.

Ngày 10/03/1975, Ban Mê Thuột thất thủ, nhận thấy tình thế Đà Lạt cũng sẽ sớm thất thủ ngay thôi, đến 20/03/75, chúng tôi phải bỏ căn nhà của mình ở số 79D Hai Bà Trưng thân thương, bỏ trường lớp di tản về Nha Trang để tìm đường trốn về Sài Gòn. Con đường từ Nha Trang về Sài Gòn cũng đã bị cắt đứt ở khu vực Hàm Tân không thể đi đường bộ được nên chúng tôi phải kiếm ghe tàu để về Sài Gòn.

Chúng tôi may mắn gặp được một chuyến tàu chở dầu tên là Long Châu đã bỏ hàng ở Nha Trang để về Sài Gòn, thuyền cho khoảng gần 100 người di tản đi theo. Đây là chuyến đi biển đầu tiên trong đời tôi, do không quen sóng biển, lại phải nằm vật vã trên boong tàu còn hôi mùi xăng dầu, lại bị lạnh vì không có chăn mền mà đắp che gió biển thổi thốc vào nên chúng tôi nôn ói liên tục.

Tuy nhiên chúng tôi cũng rất hứng thú với cảnh quan tuyệt đẹp của biển lúc mặt trời mọc, thưởng thức được những đàn cá, những con cá chép to bằng cái giường đôi mà tôi chưa từng thấy, từng con một, tại cùng một điểm phóng từ mặt nước lên trên không trung tạo nên một cái cầu vòng tòan cá vô cùng ngoạn mục.

Tàu đi mất 2 đêm 1 ngày mới tới cảng Sài Gòn. Chính quyền ở Sài Gòn đã được tàu thông báo trước nên đã cho người ra đón đoàn tỵ nạn cộng sản chúng tôi, dúi vào chúng tôi mỗi người vài ổ bánh mì, vài hộp sữa cứu đói. Chúng tôi được hướng dẫn đến địa điểm tiếp nhận là một trường tiểu học ở đường Trần Quý Cáp ở trước đài cấp nước (nay là trường tiểu học Trần Quốc Thảo, số 6 Võ Văn Tần); ở đây, sau khi trình thẻ “chứng minh thư “ là giáo sư trường Trung Học Trần Hưng Đạo Đà Lạt trên có in cờ vàng 3 sọc đỏ làm đường chéo suốt một mặt giấy với chữ ký của tỉnh trưởng Tuyên Đức, tôi được cấp 5 ngàn đồng để tạm sống và biết tôi có thân nhân ở sài Gòn nên họ không phải lo chỗ ở tạm thời cho tôi.

Tin chiến sự mỗi ngày một dồn dập, mỗi ngày mất một tỉnh, biết Sài Gòn sẽ chẳng còn giữ nổi, tôi lại một lần nữa, ngày 20/04/75, theo các sư huynh dòng La san ra Phú Quốc để chuẩn bị tìm đường đi Thái Lan. Ngày 30/04/75, sau khi nghe trên đài phát thanh, tướng Hạnh kêu gọi quân đội buông súng bàn giao cho quân Giải Phóng thì biết mình đã bị mất nước! Sáng sớm 01/05/75,tôi chạy ra bến tàu để tìm tàu hải quân ở mũi Ông Đội – An Thới, nơi đó có ông anh họ làm trung úy với hy vọng anh mình sẽ giúp cho mình đi cùng nhưng tàu của anh đã rời bến mất rồi!

Chúng tôi mua được một cái ghe nhỏ của những người đánh cá, trong đoàn có la bàn, chúng tôi nhắm hướng Chantaburi của Thái Lan mà tiến. Tàu của chúng tôi đi mới qua khu vực hòn Thơm một đoạn thì hỏng máy, sóng gió làm chao đảo cái ghe làm chúng tôi hoảng sợ, một chiếc tàu đánh cá đi qua, chúng tôi kêu cứu và được đưa về lại Rạch Giá! Ghe tàu trên bến lúc đó vẫn tấp nập, có ghe vẫn còn treo cờ vàng 3 đỏ, có ghe đã gắn cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Thất bại và sợ biển, chúng tôi về lại sài Gòn trở lại. Tôi một lần nữa phải ra trình diện để đăng ký (đây là từ mới cũng làm tôi ngỡ ngàng) tại cũng lại là trường tiểu học ở đường Trần Quý Cáp, có khác chăng là tấm bảng thay vì tiếp nhận tỵ nạn cộng sản thì nay ghi là “bị ép buộc di tản” để xin giấy thông hành “về thăm quê hương”!

Tôi trở về Đà Lạt, căn nhà của tôi đã bị niêm phong, tôi hỏi thăm hàng xóm thì được biết bác Cảnh, người hàng xóm tốt lành, gia đình bác đã từng xem tôi như con cháu, nấu cơm cho tôi ăn khi tôi còn sống độc thân lại không biết đi chợ nấu cơm, nay được bầu làm trưởng công an khu vực của mình, bác nói tôi cứ việc xé niêm phong mà vào, bác phải niêm lại sợ ai đó đến hôi của.

Ở địa phương thì đoàn thể thanh niên luôn có những kế hoạch buộc chúng tôi phải tham gia, nếu chúng tôi kêu là hội họp nhiều quá còn thời giờ đâu mà làm các việc riêng khác thì bị kiểm điểm. Loa phường thì í ới suốt ngày, không bao giờ chúng tôi được sống trong bình an.

Về lại trường cũ, các đồng nghiệp của tôi kẻ ở người đi, hiệu trưởng mới là Phạm Phú Thành.Thú thật tôi đã dạy ở trường hơn 1 năm mà tôi chưa bao giờ biết anh này, anh là người thấp, đen, nói chuyện với các giáo viên thì luôn gằn giọng, lấy chữ “trường ta là trường dân chủ nhân dân” để khủng bố chúng tôi.

Chúng tôi bị bắt đi học những buổi chính trị, học các bài hát ngợi khen đảng, ngợi khen các chiến công trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Chúng tôi phải học để biết mình đã ở trong một chế độ nô dịch, kìm kẹp và nhờ cách mạng, chúng tôi mới được thoát cuộc đời làm tay sai cho đế quốc Mỹ.

Chúng tôi được gán vào thành phần ăn trên ngồi chốc, không biết cái khổ của nhân dân lao động. Vì thế, nhà trường buộc các giáo viên (bây giờ không còn gọi là giáo sư nữa) phải đi chùi cầu tiêu. Tôi phản đối, tôi nói: tôi sẽ bằng lòng chùi cầu tiêu với điều kiện để anh lao công lên lớp dạy thay tôi thì mới công bằng; tôi cương quyết không làm, và cũng cương quyết không ký tên vào biên bản đã hoàn tất tốt đẹp công việc mà các đồng nghiệp khác đã làm, họ chỉ cần tôi cần ký vào thì tổ đạt thành tích. Hiệu trưởng cũ Trương Văn Hoàn cùng đi học chính trị với tôi cười khen tôi bây giờ … ba gai!

Nhưng đó chỉ là cái nhục thể chất nhất thời, cái đau đớn nhất của nghề giáo là phải dạy theo một giáo trình mới, một giáo trình mang tính chất khoe khoang ta đây hơn người hơn là dạy cho học sinh được giỏi, học sinh của tôi sẽ học được gì, rồi đây thế hệ sau tôi sẽ ra sao với cái kiểu dạy “thấy ruộng lúa người ta phát triển tốt hơn của mình thì kéo lúa mình lên cho cao bằng lúa của người”, đó mới là nỗi ưu tư của tôi!

Hiệu trưởng mới lúc nào cũng tôn vinh chương trình ngoài Bắc là 10 năm nhưng hay hơn chương trình trong Nam phải học những 12 năm, học sinh miền Bắc học 10 năm giỏi hơn miền Nam học 12 năm! Chính vì thế, họ cố gắng đưa những bài của lớp cao đem áp vào dạy cho lớp thấp, không cần biết sự hấp thu của học sinh ra sao. Chương trình soạn trước ngày thống nhất 1975 dạy đạo hàm ở lớp 11, lên lớp 12 mới dạy động lực học, nhờ đó mà học sinh có thể áp dụng đạo hàm trong toán học vào tính vận tốc, gia tốc thì nay áp vào dạy cho lớp 10 khi chưa dạy đạo hàm!

Trường thiếu giáo viên, tôi là thầy giáo chuyên dạy toán lý hóa thì nay bắt dạy sinh vật, anh văn, địa lý miễn sao lấp cho đầy các khỏang trống giáo viên! Tôi cảm thấy mình trở nên vô dụng trong chế độ mới, lại thêm địa phương bắt phải tham gia phong trào liên tục, cuộc sống luôn bị khủng bố ngột ngạt nên xin nghỉ dạy học, bán đắt bán rẻ căn nhà rồi về Sài Gòn, ở đó tôi cũng chưa biết sống như thế nào, ở đâu, làm gì nhưng dầu sao cũng dễ thở hơn ở tỉnh lỵ!

PHẠM QUANG THẢO