Giáng sanh hay Giáng sinh?…

0
695

Giáng Sanh hay Giáng Sinh?

Dùng sao cho đúng tiêng Việt?…
Tiếng Việt tuyệt vời!
Giọng nói người Sài Gòn
Chuyện “cái giọng Saigon”
“Tiếng lóng” của người Sài Gòn xưa
Ngôn ngữ Sài Gòn: những từ vay mượn từ tiếng Pháp

Lễ Christmas, lễ Noël là ngày Chúa ra đời của những tín đồ Ki Tô giáo.

“Một mùa sao sáng đêm Noêl Chúa sinh ra đời người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui…”

Với một người Nam Kỳ gốc, ta biết chắc chữ “sanh” là thông dụng, người Nam ngày xưa thích xài chữ sanh.

Thí dụ sanh đẻ, có Bà Mẹ Sanh Mẹ Độ, Miễu Trời Sanh, nhà bảo sanh, giấy khai sanh…
Có kinh vãng sanh, sanh tiền, bình sanh…

Trong nhạc ngũ âm có cái “sênh tiền”, sau đọc trại là ‘sinh tiền”, người Nam Kỳ kêu là “sanh tiền”, Cao Đài có cặp sanh gỏ làm nhịp đọc kinh là vậy.

Ta có ngã tư Hàng Sanh vì có trồng nhiều cây sanh.

Cao Đài xài ‘sanh” nhiều, có Lễ Sanh, đại hội nhơn sanh, cặp sanh đọc kinh.

Nhưng nói thực …

Không phải lúc nào người Nam Kỳ cũng xài chữ “sanh”, ta thấy có xài chữ “sinh”.

Trích một đoạn trong bài văn ông Jacques Lê Văn Đức là con trai Đốc Phủ Sứ Lê Văn Mầu ở Mỹ Tho ca ngợi Petrus Ký trong một buổi lễ có mặt toàn quyền Pháp hồi những năm 1920 ở Sài Gòn.

“Cụ Petrus Ký đã thâm hiểu những kỷ luật thiên nhiên của sanh vật, nên chỉ nơi nhà người vẫn là một viên cố vấn khôn ngoan sáng suốt mà ai ai cũng đến hỏi hang.

Cụ Petrus Trương Vĩnh Ký nhờ trí tuệ thông minh và cách làm việc rất chuyên chú của người nên được trở nên đơn sơ khiêm tốn nhơn lành khoan hậu, công bình thanh liêm khôn ngoan và xứng đáng, đầy lòng luân lý và cao vọng chớ chẳng phải toàn là vật chất chủ nghĩa.

Như tiên sinh, ở người tài ba đầy sự hiền vinh, tinh khiết, đã đế thế này rất sớm mà vội đi cũng sớm, chúng tôi muốn được biết cái cách ăn ở đơn sơ mà hữu chỉ cho người đồng loại”.

Ông Jacques Lê Văn Đức xài chữ “sanh vật”, nhưng lại viết ‘tiên sinh” chứ không phải tiên sanh.

Vui cái là ông Đức kêu “cụ” như Bắc Kỳ, viết “khiêm tốn nhơn lành” tức xài chữ nhơn của Nam Kỳ, song lại viết ”công bình thanh liêm” chứ không phải là công bằng.

Tổ sư của truyền bá Quốc Ngữ là học giả Petrus Ký thì sao?

Petrus Ký là người Nam Kỳ, ông viết văn kiểu “Lối văn bình dị, mộc mạc, quê mùa, trơn tuột như lời nói”.

Petrus Ký thích viết “tưởng là giống gì”, “thèm đem”, “ốm tong ốm teo”, “chạy riết về nhà”, “té ra”, thích xài “sẩy chơn”, ”đàng gái, đàng trai” rặc Nam Kỳ.

Trong “Chuyện đời xưa” xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn năm 1866 trong truyện” Chàng rể bắt chước cha vợ” có câu sau:

“Ông gia nó thấy vậy mới sanh nghi”

Trương Vĩnh Ký viết mấy câu trong bài “Tuyệt bút”

“Cuốn sổ bình sanh công với tội
Tìm nơi thẩm phán để thừa khai”

Đọc Petrus Ký ta thấy ông không viết “đờn ông”, chữ ông xài là đàn ông và “đàn ông đàn ang”.

Chữ “sanh” đóng khung xưa là Đức Phật đản sanh.

Ngày xưa người ta kêu ngày Chúa ra đời là “Thánh Đản Tiết” theo đúng tinh thần Hán Việt.

Trong một bản kinh Công Giáo Nam Kỳ xưa ta thấy chữ “Giáng Sanh” rõ ràng, tiếc rằng tui không copy lại.

Công Giáo Nam Kỳ là thế tục, sống đan xen với bên Phật và Tam Giáo, thành ra Phật Đản Sanh hay Chúa Giáng Sanh đều như nhau.

Hồi xưa người Ki Tô ở Nam Kỳ so với tỷ lệ dân các đạo khác không nhiều.

Năm 1919 ,thời Pháp trị, Nam Kỳ có 21 tỉnh với 3 triệu 62 ngàn dân. Người Công Giáo trên toàn Nam Kỳ có 70 ngàn. Sài Gòn có chừng 4000 giáo dân thôi.

Người Công giáo Nam Kỳ sống xen kẻ với cộng đồng, nói chung giữ đạo nhưng có hơi kín đáo và thế tục với xã hội

Thành ra lễ “Giáng Sanh” ở Nam Kỳ không có lớn,rầm rộ. Trong văn Hồ Biểu Chánh hầu như không có dòng nào nhắc tới.

Năm 1954 với làn sóng di dân từ Bắc vô Nam, có chừng 810.000 người tới 1 triệu người Bắc đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có 75% người tị nạn là tín đồ Công Giáo.

Nói chung số tín đồ Công giáo từ Bắc này vô đã áp đảo số tín đồ Công Giáo trong Nam Kỳ.

Công giáo Bắc Kỳ lập khu, lập giáo xứ như một thành trì nhỏ, sống khá thần quyền.

Thành ra chữ Giáng Sanh từ từ thành Giáng Sinh từ ngày đó.

Và từ 1954 thì lễ Giáng Sinh hàng năm ở Nam Kỳ làm rầm rộ, lớn và đại chúng hơn, cộng với chiến tranh, có mấy ngày hưu chiến nên dân chúng hòa chung Giáng Sinh đông đảo.

Nhiều người lý giải kêu Giáng Sinh là tránh đụng chữ “Phật Đản Sanh” cũng có thể đúng. Nhưng đã nói ở trên, chữ ban sơ của nó là Giáng Sanh.

Ngày nay quen xài Giáng Sinh thì cứ viết vậy, nhưng viết Giáng Sanh cũng không trật miếng nào hết.

Còn chữ “học sinh” là sao?

Người Nam Kỳ xưa không có khái niệm ”học sinh” và “sinh viên”.

Ngày xưa kêu người đi học chung là “học trò”.

Đọc lời dặn của Petrus Ký bằng chữ Quốc Ngữ ở đầu cuốn sách tiếng Pháp ”Petit cours d’Histoire Annamite” như sau:

“Cho học trò các trường đất Nam-Kì. ớ các trò trai, ta xin kiếng sách nầy cho các trò vì làm nó ra là làm cho các trò coi (…)”

Hồ Biểu Chánh toàn viết học trò.

Thí dụ:

“Còn không đầy một tháng nữa thì tới ngày thi bằng cấp Sơ học. Thầy nhứt Phát tính dạy rút, nên thầy buộc học trò lớp thầy, mỗi ngày hễ tan học buổi chiều rồi thì phải ở lại, đặng thầy dạy học ôn các khóa cần yếu, cho tới năm giờ rưỡi rồi mới được về. Mấy trò ham học thảy đều vừa lòng, duy có một học trò cầm chừng bị bó buộc không được về sớm mà đi chơi, thì cằn rằn phiền trách.”(Ở theo thời – Hồ Biểu Chánh)

Và:

“Một buổi sớm mơi, thầy nhứt ở trong lớp đương cắt nghĩa bài cho học trò. Thình lình ông Đốc học Tâm bước vô, lại có thầy Cai tổng Cao đi theo nữa. Cuộc cắt nghĩa bài bị ngăn trở, nên thầy nhứt Phát trong lòng không vui, song thầy cũng bước lại cúi đầu và bắt tay chào hai ông đủ lễ. Ông Đốc Tâm làm mặt nghiêm chỉnh, đứng tay chống nạnh, mắt ngó vòng trong lớp, rồi kêu mà nói rằng: “Trò Hòa bước ra đây coi nào”

Trong truyện “Một chữ tình (Sài Gòn – 1923) Hồ Biểu Chánh viết rằng:

“Chủ nhựt, học trò trường Chasseloup-Laubat ra đi chơi hết, duy có trò bị phạt với chừng mười lăm trò thấy ngày thi đã cận rồi, muốn học ôn, nên còn ở lại trong trường mà thôi”

Lòi ra nữa nè,Hồ Biểu Chánh xài chữ ‘Chủ Nhựt’ chứ không phải là “Chúa Nhựt”.

Ca dao Nam Kỳ toàn là học trò

“Học trò ăn vụng cá kho
Bị thầy bắt được đánh mo lên đầu”

Và:

“Hai tay bưng dĩa bánh bò
Giấu cha giấu mẹ cho trò đi thi”

Tui cũng chẳng mò ra chữ ‘học sinh’ có từ đâu và khi nào
Tuy nhiên có bài hát “Học Sinh hành khúc”:

“Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau. 
Học sinh xây đời niên thiếu trên bao công lao
Lúc khắp quốc dân tranh đấu hy sinh cho nền độc lập 
Học sinh nề chi tuổi xanh trong lúc phấn đấu
Đem hết can tràng của người Việt Nam tiến lên!”

Tác giả là một người Bắc Kỳ, NS Lê Thương viết bài này năm 1950 tại Sài Gòn sau cái chết của trò Trần Văn Ơn.

Thành ra xưa nay không ai viết học sanh và sanh viên, nghe rất kỳ cục.

Nhiều chữ Nam Kỳ xưa nay đã rơi rớt ít nhiều,đó là điều buồn.

Nhưng cái gì đã qua thì qua, hiện đại hòa nhập đôi khi phải chấp nhận

Ta “Phục hưng” lại Nam Kỳ Lục Tỉnh bằng từ ngữ,đúng thôi

Bản thân tui và các bạn đang ráng làm nè.

Có những phương ngữ Nam Kỳ bây giờ vẫn còn vì không tài nào bị xóa bỏ bỡi thời cuộc như “chưng hửng”,” đi riết”, ”ngồi chồm hỗm”, ”cá nhảy xoi xói”, ”sơ sịa”, ”dữ hôn”, ”đen thui”, ”đỏ lòm”, ”tái mét”…

Phi trường Tân Sơn Nhứt thì phải trả đúng tên nó.

Nhưng có những từ quá cổ mà nay có xài nhiều người không hiểu là cái gì hết ráo.

Thí dụ viết “bài sanh ý” (giấy phép), ”chạy tờ“ (báo cáo) thì… thua

Hay kêu “cầm bánh” để nói lái xe, cụ bị = chuẩn bị, cúp tóc = hớt tóc, đánh dây thép = sử dụng dịch vụ qua bưu điện.

Rồi nói “hòa hưỡn”, “hưỡn bước” là chậm rãi thì … ông nội ai mà biết.

Còn cái vụ dấu gạch ngang giữa hai chữ theo kiểu xưa nữa

Trong văn hóa Nam Kỳ xưa cái dấu gạch nối dùng để kết hợp những thành tố viết rời của một từ gồm nhiều âm tiết. Nếu viết riêng rẽ thì những âm tiết nói trên sẽ có một nghĩa khác, tức là nghĩa riêng biệt của từng âm tiết.

Cái gạch nối – dấu gạch ngang trong tiếng Việt xưa đã có từ thời chữ Quốc Ngữ mới được hình thành.

Học giả Trương Vĩnh Ký (1839 – 1898) viết:

“Ðể tránh lẫn lộn từ đơn và từ đôi, từ kép, chúng tôi đã chấp nhận, trong các từ điển, văn phạm và các ấn bản khác của chúng tôi, dùng gạch nối để xác định từ kép và ghép đôi một số mẫu âm khác của chúng tôi, dùng gạch nối để xác định từ kép và ghép đôi một số mẫu âm làm cho âm cuối dễ nghe như líu-lo, dăng-dẳng.”

Thí dụ : Trương-Vĩnh- Ký, Hoa-Thịnh-Ðốn, Ðông-Tây, Hán-Việt , Võ-đông-Sơ ,1837 – 1898

Và : hồng- thập-tự, tiềm-thủy-đỉnh, hàng-không-mẫu-hạm, thủy-quân-lục- chiến.sắc-sảo, vững-vàng, xót-xa…

Nhiều nhà văn xưa xài dấu gạch nối liên tục

Thí dụ ông Nguyễn Chánh Sắt sau đây, ông này xài ít đó nha:

“Vừa cuối tiết thu, trời chiều mát mẻ: trên nhành chim kêu chiêu – chích, dưới sông cá lội vởn-vơ; Lâm- trí Viển tay cầm nhựt báo, tay xách ba-ton (bâton), rảo bước thung dung, thơ thẩn lối cầu đường núi Sam là chỗ hẹn hò với tình nhân mà trao lời tâm sự
(…)

Vậy sao? Cơ khổ dữ chưa, vậy mà tôi không biết, chớ anh nhà cửa ở đâu? Sao mà biết con hai ở đây?

Trịnh-thế-Xương chưa kịp trả lời, Lâm-thế-Viễn liền rước mà nói rằng: “Ông bác đây là người giàu có lớn bên chợ Tân Châu”. Rồi đó Lâm-trí-Viễn mới thuật hết đầu đuôi sự tích lại cho Dì Tư bán cá nghe”

Sau này người ta bỏ dấu gạch ngang gần hết ,vì đọc vô thấy rối rắm quá.

Việc bỏ gạch nối không ảnh hưởng đến câu văn về mặt ngữ nghĩa. Người đọc dễ dàng phân biệt từ đơn và từ ghép.

Hiện đại người ta chỉ xài dấu gạch ngang khi viết năm sanh, thí dụ Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).

Và tên những quốc gia trên thế giới khi đứng chung, thí dụ: Tình hữu nghị Việt-Mỹ.

Nói chung viết từ Nam Kỳ xưa phải trúng, không lạm dụng tràn lan sẽ gây khó chịu cho những bạn trẻ. Vô tình mình tự xây rào bao vây văn hóa Nam Kỳ vì người khác không hiểu.

Có những chữ dân Nam Kỳ xài cả hai nha.

Trong tâm thức người Nam Kỳ ít nhứt một lần sẽ đọc được chữ “luông”, chữ “huề” trong những địa danh kế bên xóm làng mình.

Ta thấy có xứ Hàm Luông ở Bến Tre, Mỹ Luông ở Chợ Mới, Yên Luông ở Gò Gông.
Vĩnh Long, Long Thành ,Hòa Long…

Nhưng không phải lúc nào Long cũng thành Luông.

Nam Kỳ đâu ai kêu Gia Long thành Gia Luông.

Đồng Tháp có một xã tên là Tân Huề, Hóc Môn có ấp Mỹ Huề nhưng Gia Định xưa có xã

Bình Hòa chứ đâu là Bình Huề.

Vĩnh Long có cầu Thiềng Đức, Bến Tre, Chợ Lách có Tân Thiềng, Cần Giờ có đảo Thiềng Liềng…

Nhưng Gò Công lại có Tân Thành.

Sài Gòn kêu chợ Bến Thành chứ có ai dám kêu chợ Bến Thiềng.

NGUYỄN GIA VIỆT