Giấc mộng cháo nếp…

0
232

Lê sinh, người quận Châu Thành, đất Định Tường. Lúc tuổi còn trẻ, vì sinh kế, đến ở đất Tây Cống. Một ngày, nhân tiết thu mát mẻ, Lê cưỡi lừa ra ngoại thành chơi. Cứ ruổi theo dòng Sài Giang, cây cỏ khuất chìm, sóng vỗ tịch mịch, đang định quay về thì thấy phía trước có một quán trà, thâm u, thanh nhã. Lê sinh bèn thúc lừa vào, thấy trong quán có vị đạo sĩ, kéo ghế cùng ngồi, uống mấy chung rượu, cười nói hỉ hả. Sau mấy tuần rượu, Lê nhìn xuống quần áo còn chằng chịt vết xỉ hàn, tay chân còn vết chai u cục, bèn bất giác thở dài. Đạo sĩ trông thấy, cười lớn nói “ông nay còn trẻ, thân thể khỏe mạnh, uống bát rượu lớn, ăn miếng thịt to, hà cớ gì phải ủ ê”. Lê nói “Tôi mong có thể làm nên nghiệp, vinh thân phì gia, phú quý muôn trùng, vậy mới thỏa lòng, chứ phải làm công việc tay chân độ nhật, thật không cam lòng”.

Đạo sĩ nói ‘tưởng gì khó, ông cứ ngủ một giấc, ắt sẽ thỏa nguyện”, rồi rút trong tay nãi ra 1 cái gối nhỏ đưa Lê. Lúc này, chủ quán mới bắt lên một nồi cháo nếp. Lê ngủ, thấy kẽ nứt trên gối bỗng nhiên rộng lớn, sáng lòa, Lê theo đó mà vào.

Từ đó, Lê theo một nhóm khởi nghĩa, dựng đại nghiệp. Liên tục thăng chức nhờ hăng hái, Lê lên đến chức Cai tổng đội thanh niên khi chưa đến tuổi 25. Cuộc soán đoạt thành công, Lê nhanh chóng nhờ triều mới mà lên nhanh. Từ xã trưởng, Lê lên quan quan huyện, quan tổng, còn nắm cả chức thống lĩnh quân đoàn xung phong, xua quân qua nhiều nẻo lam chướng mà lập công. Lê lấy người vợ tên Thanh Hiền, cũng là nhà có của nả, gia thế mạnh, hòa hợp giai ngẫu, nhà ngày càng sung túc. Sinh ra mấy người con, đều được tập ấm làm quan chức cao cả.

Lê làm quan trải mấy đời vua, lúc nào cũng biết cách để giữ vững gia cảnh, ruộng vạn khoảnh, tư dinh cao ngất. Nhân lúc nhà rỗi, Lê không biết bằng cách nào đã có thể vào trường thi mà đạt cử nhân văn chương, luận cả kinh bang tế thế. Lúc thịnh, được vua vời vào triều, làm gián quan, để vua hỏi việc chính sự. Khi hơi yếu thì lại về làm thứ sử, cai quản cả một vùng Tây Côn rộng lớn. Nhân vào lúc này, Lê cùng vài quan khác, bằng nhiều cách khác nhau, biến mấy trăm vạn khoảnh ruộng của dân thành đất công, rồi lại sang cho bọn địa chủ, phát mãi thu tiền không biết bao nhiêu mà kể.

Nhân dân oán thán, cùng quẫn suốt 20 năm dài, Lê dùng ngụy kế và đám gia thần hổ báo khiến tất cả im miệng. Dân có người khổ quá, phải tìm đến cái chết, oán dày nặng đè lên một vùng đất lớn, nhưng sợ oai Lê, nhiều kẻ trong triều lẫn bọn sĩ phu, đều im miệng cho qua. Lê và bọn tay chân, từ đó, không kiêng nể gì nữa, sống thoải mái đến qua tuổi nhi nhĩ thuận.

Vật đổi sao dời, nhân một kẻ trong những kẻ cất nhắc, trọng dụng Lê bị biếm chức, đày làm thứ dân, hội nhóm của Lê tan tác. Có kẻ bị phat đày đi xa 300 dặm, có kẻ bị hạ ngục thích chữ lên mặt… Lê lo lắm, nhưng vẫn tìm cách vượt qua. Đến lúc, dân nổi can qua, triều đình e sợ, sai sử các đại danh bổ tìm cho ra các bằng chứng đặng kết tội Lê, vỗ an dân. Quân tung đi rầm rộ, Lê khóc với vợ rằng, ta làm quan trải mấy đời vua, nay chẳng lẽ đã đến lúc vác củi, hầm than mà sống. Cả nhà không nói gì, ôm nhau khóc rầm rĩ.

Lúc quan binh tiến vào nhà, Lê chạy ra chùi nước mắt bảo, “ta đã xin hưu, có chỉ của vua, còn biết gì mà nói, có nói gì mà bắt…”. Quan binh không nghe, cứ tiến vào. Lúc này, sực nhớ ra điều gì, Lê bèn ngẩng mặt lên trời la lớn “bớ đạo sĩ, đưa ta ra khỏi giấc mộng cháo nếp này, ta đã trải đủ, đã nếm tất cả mùi ngọt lành và tân khổ của đời, ta đã biết tất cả là phù du. Đưa ta ra đi, ta sẽ theo ông tu đạo”, đám quân sĩ bất ngờ, cứ ngỡ Lê điên.

Trong nhân dân trăm họ bu đen đỏ trước phủ coi náo nhiệt lúc ấy, bỗng có một đạo sĩ quắc thước, râu dài quá cổ bước ra, chỉ thẳng mặt Lê mà rằng, “thằng điên, giấc mộng nào, năm đó mi ngủ một chút, rồi trở dậy, ăn hết nồi cháo nếp, uống sạch mấy hũ rượu. Say xỉn và không có tiền, gây sự làm bể cái gối đẹp của ta, đánh chủ quán 1 trận, rồi lấy lừa chạy mất. Mông ta bị ngươi cắn còn dấu đây, nay mới có dịp để chửi ngươi. Loại ăn cháo phá quán như ngươi mà còn đòi giấc mộng kê vàng với theo đạo”. Lê nghe thế bèn choàng tỉnh “làm gì có mộng nào, đau khổ, oan ức của bách tính là thật cả đấy”.

Tháng Trọng Hạ năm đó, ta đi qua Tây Cống, có vị làm trong ngự sử đài, tên Niên Thanh, kể tường tận chuyện này cho ta nghe. Ngẫm thấy việc có thể ghi lại, để kẻ đời sau nếu luôn miệng bảo “đời như giấc mộng” soi vào đây mà biết “em ơi nếu mộng không thành thì sao”, như lời ca nữ hay hát vậy!

THUAN VUONG TRAN