Chuyện hồi đó…

0
195

Vốn là dân Nam Kỳ sát nách Saigon. Trong nhà ông Nội thì biết chơi đàn Kìm, đàn sến. Nên trong gia đình tôi cũng ít nhiều ảnh hưởng gien di truyền của người dân bổn xứ là khoái đi xem cải lương.

Trong thập niên 1960 ngoài chuyện đi coi hát với người lớn thì thỉnh thoảng ba anh em tui cũng đi coi hát một bè, đó là anh ba tui sanh năm 1952 ông anh tư thì sanh năm 1955 tui 57, còn nhỏ mà, nên đi xem xa nhất là rạp hát Thủ Đô. Muốn xem hát rạp Thủ Đô thì ngoài tiền vé 3 anh em chỉ mua 2 vé hạng cá kèo tức là ngồi ở những hàng ghế chót, thì phải tốn tiền đi cyclo máy.

Xóm tôi là xóm ven đô nên cũng thưa người, muốn đi coi hát là phải đi sớm sớm một chút trừ hao, nhiều khi ba anh em cuốc bộ ra tới tận ngoài ngã tư Hậu Giang mới có xe Cyclo máy.

Đi cyclo máy tuy hỏng sang bằng xe Taxi nhưng ngược lại nó mát vì đưa nguyên cái mặt mo ra để mà hít khói, bụi. Xe cyclo máy đi thì cũng ham mà nhiều khi cũng sợ thí mồ tổ… cái mỏ trước chiếc xe sàng qua lắc lại y như con cá trê lóp ngóp lội trên mặt nước. Ghê nhất là chạy sau xe hàng (xe tải nặng Desoto), ngồi mà lo sốt vó vì trong đầu cứ nghỉ dại, là rủi mà xe hàng thắng ăn, 6 bánh đứng sựng, còn chiếc cyclo thắng không kịp, là ba cái bản mặt của anh em tui, hun vô ngay tróc, cái bửng phía sau thùng xe hàng mà hỏng có cách nào né được.

Nghĩ lo xa vậy thôi chớ thật ra thì cũng khó. Ai mà từng ngồi xe cyclo máy chắc là cũng có cảm nghỉ như tui vừa mới kể. Vừa ngồi vừa nói chuyện tào lao, mà đôi mắt thì luôn nghía cảnh giác cái đít xe hàng.

Coi thường nhất là tại hai rạp Tân Bình và Tân Lạc cho nó gần, vô cửa ngồi ngay ghế xong rồi, là tui nói với hai ông anh là tui đi tiểu. Nói cho có cớ vậy thôi chớ thật ra là tui lén đi coi đào kép vẽ mặt làm tuồng.

Tui hồi đó chừng 7-8 tuổi nhưng lanh bà cố luôn chớ không phải giỏi lướt smartphone như con nít thời bây giờ, đi đâu cũng có ông bà cha mẹ tiền hô hậu ủng. Muốn đi coi mặt đào kép thì chui qua cửa hông rạp, chổ lối thoát hiểm, nó ăn luồn ra tới luôn phía sau hậu trường sân khấu, phía sau hậu trường đèn đuốc sáng trưng, cải lương toàn xài bóng đèn neon nó phát nhiệt ra nóng thí bà cố, phía sau hậu trường nó như là cái chợ, người ta lăng săng, lít xít, đi tới, đi lui, la hét, gọi nhau thỉnh thoảng xen lẫn tiếng chửi thề, đàn ông, đàn bà gì cũng có, chữi tục nói trây ngoài đời nếu mà hơn nghệ sĩ, tui nguyện cạo đầu ăn chay nữa tháng.

Hồi đó hình như con nít không có tham lam cắp vặt nên tụi tui đi luôn tuồn, chỉ khi nào gặp mấy chú trật tự của đoàn hát hơi khó thì mấy ổng trợn mắt, bặm môi hù ma nhát khỉ một chút thì thôi, rồi đâu cũng vào đó.

Tôi nhớ hôm đó 3 anh em đi coi đoàn Hương Mùa Thu hát tuồng Con Cò Trắng ở rạp Tân Bình (nay là nhà sách Cây Gỏ) có mặt Hữu Phước, Phương Thanh, Thanh An, Hoàng Kim Bằng, Ông Bảy Xê, chú Hề Minh, hai chị em Ngọc Hương, Ngọc Lan và bé Hương Lan (tức là ca sĩ Hương Lan ngày nay).

Tôi nhớ lúc đó Hữu Phước mặc quần short bằng vải trắng, mang vớ trắng, và mặc áo thun lưới màu trắng, đang vẽ mặt gần xong, thì từ hướng bên ngoài ngang hông phía bên tiệm chụp hình Duy Mỹ, không biết ai chơi kỳ, thảy qua một cái cùi bắp dính sình, ác một chổ là nó trúng ngay mặt ông Hữu Phước, sình đất cát nó văng tùm lum trên mặt, ông Hữu Phước buộc miệng chữi thề và la lớn: đm ai mà chơi kỳ vậy. Mấy ông trật tự đoàn chạy rần rần ra cửa trước. Còn Hữu Phước thì đi rửa mặt để vẽ lại.

Đến năm 1972-1973 lúc nầy tôi cũng vừa hơi trọng trọng ,bắt đầu trong ngưỡng cửa tuổi Thanh thiếu niên, thói đam mê xem cải lương vẫn còn y như cũ. Tôi nhớ năm đó bà Bầu Thu lập cho nghệ sĩ Minh Vương lúc nầy Minh Vương nổi như cồn trên hãng dĩa hát Việt Nam của cô 6 Liên. Một đoàn hát cũng mang tên là đoàn cải lương Việt Nam, khai trương hát tại rạp Cây Gỏ, 4 hay 5 đêm gì đó với 3 tuồng là QUÁN BIÊN THUỲ, NẮNG THU VỀ NGỎ TRÚC và TÌNH MỘT THUỞ CÒN VƯƠNG…

Với dàn nghệ sĩ như sau: Hát chánh ngoài ông chủ đoàn là Minh Vương ra thì có Phương Thanh hát kép nhì. Giang Châu, Linh Giang (sau 75 lấy nghệ danh Đức Minh chồng Mỹ Châu) Thanh Hiền, Thanh Tùng. Phượng Liên , Trang Thanh Xuân, Mộng Nghi, Lý Lệ Hoa (vợ Thanh Hiền sau 75 hát cho Saigon 3). Và danh hề Văn Chung hát đêm nào cũng đầy nhóc rạp.

Tôi nhớ có đêm nghệ sĩ Phượng Liên hỏi Minh Vương là trong rương đồ, có cây kiếm nào đẹp hôn, chứ gươm Quận Chúa gì mà thấy ghê, xấu quắc, đến năm đó mà tôi vẫn còn thói mê xem mặt đào kép hát phía sau hậu trường sân khấu. Và cũng phải công nhận là nhiều nghệ sĩ ngoại hình cũng bình bình, nhưng qua một lớp phấn son và dưới ánh đèn sân khấu thì họ đẹp lộng lẫy ra, khiến người xem say đắm, nên nhờ vậy mà cải lương mới tồn tại với thời gian qua nhiều thăng trầm biến đổi.

Ngoài những nghệ sĩ tên tuổi đi vào lòng khán giả, mọi người đều nhớ mặt, thuộc tên, thì trong đoàn Việt Nam của Minh Vương có hai cô đào nhì và đào ba là Trương Thanh Xuân và Mộng Nghi sau nầy gặp nhiều trắc trở.

Trang Thanh Xuân vốn là cô đào đẹp hình thể, sắc vóc những năm 74-75 mới vừa được hãng dĩa Việt Nam ký hợp đồng và lăng xê cho hát với Minh Vương bài tân cổ Mộng Ban Đầu khá sắc nét và thâu tuồng cải lương trên băng catssete là Tây Thi chưa phát hành vì năm 75. Nên hoa chưa kịp nở đã tàn.

Sau 75 thì Trang Thanh Xuân chỉ loay hoay hát cho mấy đoàn tỉnh, nhiều nhất là các đoàn của tỉnh Sông Bé. Hồng nhan đa truân, được ví là cô đào đẹp nhất nhì của Sân khấu cải lương Saigon những năm 74-75 bình chọn khán giả của báo Sân Khấu, vậy mà về chiều, sau khi rời sân khấu quá sớm vì bịnh tật thấp khớp, chị đi bán vé số dạo và sống độc thân không chồng con.

Cô đào kế tiếp là Mộng Nghi sắc vóc cũng trung bình nhưng lại có cái đặc biệt là ca giống nghệ sĩ Mỹ Châu đến 99%. Trước 75 vì hãng Việt Nam có Mỹ Châu là đào chính nên Mộng Nghi hát cho hãng dĩa Continental và Hồng Hoa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như bài Cô Thắm về làng và hát với Hà Bửu Tân vài bài ca khác.

Sau năm 75 thì Mộng Nghi và Lệ Thu em Lệ Thuỷ theo hát cho gánh Hương Dạ Thảo của Phương Bình Ngọc Bê một thời gian khá dài thì biệt tích, ít còn nghe ai nhắc tới một Lolita 2 của sân khấu cải lương thời trước. Đó là số phận của hai cô đào trẻ, chỉ được nghiệp tổ đãi nữa chừng.

Về các hảng băng dĩa thì trước năm 1975. Hãng Việt Nam là vô đối về nghệ sĩ thì cũng ngang ngữa với mấy hãng kia nhưng về dàn nhạc sĩ đàn cổ thì quá siêu như: Văn Vĩ, Năm Cơ, Tư Thiên, Hai Thơm và sau nầy là Văn Giỏi, sau khi Văn Vĩ qua đàn cho Continental thì Văn Giỏi đàn Guitar chính thức chinh phục người nghe với đây đàn vĩ cầm Bán Ngân Giang ngọt mà buồn não nuột qua tuồng Lan và Điệp nhất là bài vọng cổ Hận Tha La.

Ngoài ra còn phải kể đến tài soạn bài ca tân cổ, dễ ca mau thuộc lời của soạn giả Loan Thảo. Hoạ sĩ Kha Thuỳ Châu trình bày bìa bài ca dĩa hát nét chữ đẹp, trang nhã, nên hãng dĩa Việt Nam thu lợi từ phát hành bài ca lẻ qua in giấy cho người tập ca một khoản thu không phải là nhỏ.

TRẦN NGỌC HIẾU