Cá có mùi cháy rồi…

0
98

Bực mình…
Trả lời ẩu…
Người dân đang chờ quyết định của chính phủ…
Trò đánh thày có gì mà lạ?…
Ông Thuyết nói sảng…
Tôi, tiến sĩ, xin xuống học lớp một…
Cáo già…
Đừng đổ lỗi cho thể chế…
Bốn cái làn…

Trao đổi thẳng với 2 Giáo sư Trần Đình Sử và Nguyễn Minh Thuyết.

Tôi đọc tất cả những bài trả lời phỏng vấn của 2 ông trên một số tờ báo về sách tiếng Việt, vui mừng nhất là cả hai ông đều tự hào nhận mình là Chủ biên sách tiếng Việt (Giáo sư Trần Đình Sử) và Tổng chủ biên Sách Tiếng Việt 1 Cánh diều (Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết).

Trên các trả lời, các ông đều khôn khéo, mạnh mẽ, cương quyết, kiên định bảo vệ mọi thứ mà dư luận xã hội lên án, tất tần tật dư luận lên án đều sai, các ông đúng, rất đúng, sáng tạo vì có nghiên cứu, có cân nhắc, có tổng hợp xưa nay, có cả hội đồng biên soạn cứng cựa…

Bây giờ, tôi trân trọng và từ tốn trao đổi thẳng với 2 ông như sau (chỉ là tóm tắt):

1. Chuyện bài toán “4 cái làn” mà các ông cho rằng không có trong sách giáo khoa nào do các ông chủ biên, đúng thế, và cho đó là bịa đặt thì sai hoàn toàn. Nó có trong sách tham khảo “Vở bé làm quen với chữ số” (ảnh kèm)/ Và các ông nói, các ông chỉ biết sách giáo khoa, các sách khác các ông không biết. Ơ kìa, thì ít nhất nếu có chút lương tâm, các ông phải giật mình, các ông phải truy cho ra, ai là người kí cho ra sách  “4 làn” này chứ, nhà sách Minh Thắng là ai để cho ra cuốn sách này? Hoặc có quyền lợi gì mà say mê giới thiệu cuốn sách này?  Là một nhà giáo dục phải đau nếu đâu đó sai chứ, sao phủi tay nhanh thế?

2. Các ông nói các ông đã xem xét cẩn trọng, đọc từng dòng, từng trang tiếng Việt/ Vâng. Nhưng liệu các ông sẽ nghĩ thế nào khi lỗi của Sách Tiếng Việt 1 của nhóm Cánh Diều lại be bét như thế này không? Một bạn đọc gửi cho tôi sau khi bỏ nhiều thời gian đọc:

1) Về văn bản:

– 46 bài/82 bài đọc là các văn bản sao phỏng từ các truyện ngụ ngôn nước ngoài, trong đó có 8 bài được tách ra thành 2 phần cho 2 bài, làm lệch lạc về nội dung.

– 02 bài văn vần, trong đó có bài vè nói ngược, kiểu “Chó thì mổ mổ”. Vắng bóng thơ, đồng dao, ca dao…

– Còn lại là các bài văn xuôi tiếng Việt, không có tác giả hoặc loại tác giả “vô danh”, văn vẻ lặp đi lặp lại nhiều câu ngô nghê, nội dung ít tính giáo dục.

Việc lựa chọn văn bản như trên dẫn đến những hạn chế về nội dung và ngôn ngữ diễn đạt của sách, như nhiều người đã chỉ ra.

2) Về nội dung:

– Có gần 50% các bài đọc dựa trên các cốt truyện có nội dung liên quan đến các yếu tố bạo lực, thói xấu, hoặc xa lạ với trẻ (đe doạ, bắt nạt, lừa đảo, lười biếng, sinh đẻ), không có tính giáo dục.

– Các nhân vật chủ yếu trong bài đọc chủ yếu có quan hệ không thân thiện (dê đen- dê trắng, quạ – sẻ, hổ- thỏ, thỏ- rùa, ve – gà, gà nhí -quạ, cò – quạ, chó – quạ, quạ -gà, cua- cò -cá, chuột út – mèo, chuột út – gà trống, chồn – gà rừng, cá măng- cá mập, thợ săn – vượn, lừa – thỏ – cọp v.v…) hoặc không có quan hệ gì trong thực tế để liên tưởng (thỏ – cún – vượn)…

– Các hoạt động, cảm xúc chủ yếu của các nhân vật này là: sợ (thống kê sơ bộ ở mấy bài đã khoảng chục lần), lo, ăn thịt, doạ, dữ, dám, giả vờ, la, than, cuỗm, quắp, tợp, tha, la, cắn, mổ, nhá, chộp, tóm cổ, kẹp cổ, nuốt mồi, bắt, chén, hùng hục, phàn nàn,than thở, lầm rầm, van xin, than thở, liếm, la liếm, vùng vằng, lem lẻm, cằn nhằn, gật gù..

3) Về ngôn từ:

– Dùng quá nhiều các từ ngữ phương ngữ, khẩu ngữ, từ ngữ ít dùng: gà nhí, gà nhép, sẻ ri, ca ri ri, pianô, xe téc, nhá cỏ, nhá dưa, quà quà, chả (lo), tí gì, vù, vọt, hí hóp, la liếm, tỏ vẻ, thô lố, ngó, ngộ, nom, ướt nhẹp, dăm (nhà)…

– Dùng nhiều kết hợp bất thường: quạ ‘quà quà”, sẻ ca riri, cho ve tí gì, chả có gì, (đẹp) mà chẳng khôn, giúp má sắp cơm, quạ kiếm cớ la cà, cua khệ nệ ôm yếm, chó thì mổ mổ, gà thì la liếm…

– Dùng nhiều câu quá dài (Khỉ đi thăm bà. Khi đi nó hứa sẽ đem về đủ thứ cỏ lạ hoa thơm làm quà cho thỏ và nhím. Cả nhà Nga đi phố, ghé nhà dì, nghe pi a nô. Giá bà ra phố chơi, Bi đỡ nhớ bà, nhớ bố mẹ) hoặc kiểu câu không thông dụng (quà là rổ khế, rổ mơ, cá rô, cá quả. Cò chả đáp gì)

– Một số mẫu câu lặp lại đơn điệu ở nhiều bài, ví dụ X có Y… (Bề có cá, có cỏ. Hà có ghế gỗ, ba Hà có ghế da. Bờ Hồ có ghế đá. Cỗ có giò, có gà. Hồ có cá mè, ba ba. Nhà có na, nho, khế. Nhà bà có gà, có nghé. Gà có ngô. Nghé có cỏ, có mía. Bi có phở. Bé Li có na. Bố có cà phê….).

3. Kho tàng văn học Việt Nam ở đâu trong bộ sách của các ông, hay các ông cố ý né tiền bản quyền tác giả?

Tôi nói thêm lần nữa với hai ông: Với con trẻ bước vào lớp 1, ngôn ngữ giao tiếp, học, đọc là một ưu tiên hàng đầu. Ngay từ mẫu giáo, bố mẹ, cô giáo đã phải dạy, uốn nắn, chỉ bày từng từ, từng câu, cách gọi, cách nói, cách xưng hô. Đến khi vào lớp 1, chữ đầu tiên, câu đầu tiên trong sách cũng phải thế, hết sức cẩn trọng, hết sức sạch sẽ, hết sức trong sáng. Tuổi các cháu là tuổi học theo, nói theo, rất dễ thấm sâu vào tư duy, vào ý nghĩ, vào cảm xúc. Nếu bỏ qua vẻ đẹp của ngôn từ, bỏ qua sự tinh tế của câu chữ, bỏ qua cảm xúc, ngữ điệu văn của từng câu, từng đoạn văn, chỉ chú ý đến thao tác kĩ thuật từ mới, thì chắc chắn không chỉ thất bại mà nguy hiểm. Nhà biên soạn sách không thế máy móc áp từ mới vào bất cứ câu nào, đoạn văn nào, miễn là phù hợp, hơn thế, hơn thế nữa, những câu, đoạn văn, khúc thơ có sự xuất hiện từ mới phải được lựa chọn vô cùng công phu, bảo đảm những câu văn thật nuột nà, ý tứ thật nhân văn, đoạn văn phải diễn đạt thật trong sáng, thật gần gũi, gần gũi ở mức mà các cháu đọc lên, ngân lên là thuộc ngay, thích ngay, thuộc và thích đã thì mới bắt đầu bước phân tích từ mới. Chúng ta dạy chữ, dạy kiến thức cho con trẻ không phải là cách sắp đặt chữ vào đầu, mà đưa chữ, đưa kiến thức vào đầu các con, vào tư duy các con, muốn thế, “phương tiện” chuyên chở phải thật ngọt ngào, thật lung linh, thật lôi cuốn, để không chỉ các con nhận mặt được từ mới, mà còn là cách để các con bổ sung nhận thức mình về cảm quan, về xúc cảm, làm giàu tâm hồn, mỗi tiết học như thế nó gần gũi, thương mến, lôi cuốn và sống động, học là nhớ luôn.

Như đã nói, chọn câu, đoạn văn, khổ thơ đưa vào sách nhằm chuyên chở từ mới cho các con là phải hết sức kĩ. Trước khi nghĩ tới từ mới, thì đoạn văn đó, khổ thơ đó phải đẹp, đẹp cả ngôn ngữ, đẹp cả nội dung, đẹp cả đạo đức. Không thể dùng những câu chữ với thứ ngôn ngữ hàng chợ, thứ ngôn ngữ bông phèng, thứ ngôn ngữ bỗ bã để chuyển tải từ mới. Kho tàng văn hoá dân gian, thơ ca, hò vè, văn học xưa nay ở nước ta tha hồ lựa chọn, và biết bao nhiêu câu, đoạn, khổ thơ hay, hay và trong trẻo và gần gũi, tại sao lại phải lấy từ văn học nước ngoài, tại sao lại phải “phỏng theo”?  Một nhà biên soạn sách phỏng theo nguyên tác một nhà văn lớn mà dễ thế sao? Văn chương trước khi đưa ý, đưa chuyện, đưa đạo tới người xem là ngôn từ, ngôn từ không hay, ngôn từ khô khốc, vô cảm như người ta đang làm theo cách “phỏng theo” liệu lợi hay hại? Biết chữ nhưng lại biết thêm những ngôn từ xấu, ý tứ xấu thì biết chữ làm gì? Đây là cơ hội cho con trẻ không chỉ học chữ mà còn tiếp nhận văn hoá dân tộc, tại sao không làm?

Vốn chữ, nghĩa của từ Việt phổ thông nó phong phú, nó đủ sức chuyển tải mọi thứ trong câu, trong đoạn văn, khổ thơ, tại sao phải dùng phương ngữ. Tại sao lại phải ép học sinh học phương ngữ khi vốn từ vựng Việt đang rất phong phú và quý giá? Đó sự là sự áp đặt khiên cưỡng, tai hại, cần phê phán và loại bỏ.

Nếu có thời gian, có thể, ở buổi học thêm, ở cuối mỗi tiết học, thầy cô có thể nêu ra cho học sinh tham khảo thêm một số từ ngữ phổ thông nhưng ở các địa phương, vùng miền trong nước lại dùng từ khác để gọi tên, như thế là cách để bổ sung vốn từ cho các con. Chứ dứt khoát không thể dùng phương ngữ thay thế từ phổ thông.

4. Ai đã lệnh cho các cơ sở giáo dục quán triệt giáo viên im lặng, huỷ diệt ý kiến cá nhân, không like, không thả tim, không comment vào các trao đổi, bài viết về Sách Tiếng Việt 1 trên mạng xã hội? 

Tạm thời thế đã, mãi viết, cá có mùi cháy rồi.

NGUYEN QUANG VINH

***

DỰNG CHUYỆN, BỊA ĐẶT ĐỂ BẢO VỆ CÁI SAI: TRƯỜNG HỢP ÔNG ĐỖ NGỌC THỐNG

Bảo vệ việc ông Tổng Chủ biên Nguyễn Minh Thuyết đưa vào Sách giáo khoa tiếng Việt Một những truyện ngụ ngôn gọi là “phỏng” thực chất là bóp méo, xuyên tạc trắng trợn truyện gốc để thành truyện phản giáo dục, nhảm nhí, ông Đỗ Ngọc Thống có bài viết “Văn học với trẻ thơ và người lớn”. Tóm ý như sau:

1) Khi nghe xong truyện cổ tích Tấm Cám, mẹ hỏi: “Con thích Tấm hay Cám?” Em bé sẽ trả lời ngay: “Thích Cám!”. Mẹ ngạc nhiên hỏi vì sao, em bé hồn nhiên trả lời: “Vì Cám có mẹ!”. (Có vẻ hồn nhiên thật hè?)

 2) Ông Thống kể chuyện thầy giáo ở Mỹ dạy truyện Lọ Lem, Khi thầy hỏi học sinh: “Nếu em là mẹ kế (dì ghẻ), em có ngăn cản Lọ Lem đi dự hội không?”. Học sinh trả lời có. Thầy hỏi vì sao? Học sinh đáp: “Vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con gái mình thành hoa hậu!” (Có vẻ mang bản năng làm mẹ hè?). Thầy khen đúng và giảng giải cho học sinh hiểu không nên định kiến dì ghẻ là xấu. Thực ra họ không tốt với người khác thôi, chứ rất tốt với con mình! (Lãng nhách, vì trẻ đã được thầy khen chứ định kiến hồi nào mà thầy phải “dạy dỗ” không nên định kiến hè?)

3) Những tác phẩm văn học sâu sắc thường chứa nhiều ý nghĩa và có thể suy luận theo nhiều cách khác nhau. Trong nhà trường cứ để trẻ em tiếp nhận nhiều cách khác nhau bằng trí tuệ và tâm hồn của trẻ. Và thầy cô giáo sẽ “dạy dỗ” trẻ em bài học về sự nhân hậu, cao cả… (Nghe chừng rất đúng với tinh thần “dạy học phát triển năng lực” hè?)

Từ ba ý trên, ông Thống đi đến kết luận, việc Sách giáo khoa Tiếng Việt Một đưa vào những truyện ngụ ngôn có nội dung của sự lừa lọc, khôn vặt, láu cá, tráo trở… cho trẻ em tiếp cận sớm là chính đáng. Sự thật, nói những truyện ấy toàn dạy trẻ trò khôn vặt, lừa lọc, láu cá, tráo trở… là do người lớn suy diễn. Trẻ con không nghĩ và hiểu văn học như vậy! (Có vẻ rành “đọc hiểu văn bản” hay lý thuyết tiếp nhận quá hè?)

Tôi đọc xong bài của ông Thống, thú thực tôi không thể hiểu ông nói gì. Bởi ba ý mâu thuẫn đến tréo ngoe. Ý 1 ông nói trẻ sẽ làm Cám vì Cám có mẹ; ý 2 ông nói, trẻ sẽ làm dì ghẻ để ngăn Lọ Lem đi dự hội, vì muốn con mình thành hoàng hậu. Ý 3, ông nói trẻ em có nhiều cách hiểu khác nhau, tức có thể đúng hoặc sai và cần thầy cô “dạy dỗ”. Coi như 3 ý này có sự thống nhất cơ bản đi, thống nhất ở điểm trẻ em thích nhân vật ác. Nhưng như vậy cũng coi như ông thừa nhận trẻ em có thể làm cái gì có lợi cho nó, bất luận là dùng thủ đoạn làm hại người khác. Nhưng đến ý kết luận thì ông lại khẳng định, rằng nói sách Tiếng Việt Một đưa vào những truyện ngụ ngôn dạy cho trẻ học sự láu cá, khôn vặt, lọc lừa, tráo trở là suy diễn của người lớn, tức những người chống phá cái món “dạy học phát triển năng lực” của các ông. Có mâu thuẫn không, khi một mặt ông vừa thừa nhận trẻ em vụ lợi, đứng về phía cái xấu, cái ác để làm hại người khác, mặt khác ông lại nói trẻ em không nghĩ và hiểu văn học như nội dung phản giáo dục mà người lớn suy diễn trên kia?

Những người não không có nếp nhăn đọc trơn sẽ rất đồng tình với ông và khen ông nói đúng, nói hay. Còn tôi thì bác bỏ hoàn toàn!

Thứ nhất, tôi khẳng định với ông, bất cứ trẻ em nào, khi kể cho nó nghe xong truyện Tấm Cám, nó đều không đòi làm Cám mà rất ghét Cám. Tôi từng thử nghiệm cho cô giáo kể chuyện Tấm Cám như sách giáo khoa (tức đã bỏ hẳn đoạn kinh dị Tấm tắm nước sôi Cám và làm mắm cho mụ dì ghẻ ăn), không giảng giải gì thêm. Nhưng khi cho trẻ chơi trò đóng vai, tuyệt nhiên không có trẻ nào chịu đóng vai Cám. Hỏi vì sao? Trẻ đều trả lời hoặc ghét Cám hoặc sợ bạn ghét. Ông có dám cược không khi cùng tôi thử lần nữa xem? Đừng coi thường trẻ em mà bịa chuyện như vậy, trừ phi cá nhân ông hồi bé nghe chuyện Tấm Cám rồi đòi làm Cám hay dì ghẻ cho thoả mãn cái oai hoặc ác!

Thứ hai, chuyện dạy Lo Lem ở Mỹ thì chính tôi là người từng share cả cái clip và dịch cho mọi người xem. Không có tình huống đơn giản và nhảm nhí như ông bịa. Tôi tóm gọn thế này. Sau khi thầy giáo kể xong chuyện Lọ Lem, thầy hỏi các em đứng về phía ai, Lọ Lem hay mẹ kế? Cả lớp đều đứng về phía Lọ Lem. Thầy hỏi vì sao? Cả lớp gần như đều nói, vì mẹ kế đáng ghét. Tình huống ấy mới dẫn đến thầy hỏi câu này: “Các em hãy nói thật trung thực, nếu sau này các em có con, các em sẽ yêu và bênh vực con mình hay con của người khác?” Lúc ấy học sinh mới ngớ người ra. Nhiều em nói: “Em sẽ yêu và bênh vực con của mình hơn!” Bây giờ thầy mới nói, người mẹ yêu và thiên vị con mình đẻ ra là hiển nhiên, chưa hẳn đã xấu. Nhưng không phải vì thế mà làm hại người khác. Chuyện thế đấy ông Thống ạ. Tôi bình, rằng trẻ em ở đâu cũng vậy. Cổ tích dễ gieo rắc vào đầu trẻ em định kiến dì ghẻ/con chồng, rằng mọi dì ghẻ đều xấu. Trong xã hội hiện đại, nếu không giải định kiến ấy, không chừng dì ghẻ sẽ thành nạn nhân của con chồng hoặc cả họ nhà chồng.

Lúc nào cần tôi cho ông xem lại clip ấy. Đừng bịa đặt tuỳ tiện để lừa bạn đọc không có thông tin, vì ông thầy Mỹ và trẻ em Mỹ không có cái đầu như ông.

Thứ ba, không biết ở đâu ra, ông lại vu cho đám người lớn suy diễn sách giáo khoa Tiếng Việt Một dùng truyện ngụ ngôn để dạy trẻ em thói khôn vặt, láu cá, tráo trở, lừa lọc? Điều ông nói chỉ đúng cho những truyện ngụ ngôn bị ông Thuyết cắt xén ra làm bài học. Cả truyện thì không, nhưng riêng chuyện hai con Ngựa đoạn 1 kết thúc bằng sự hả hê “Có lý” thì ông Thuyết đã dạy cái “lý” gì nếu không phải cổ vũ sự lười biếng? Truyện Quạ và Chó không cắt gọt thành hai phần, nhưng đổi nhân vật Cáo nguyên gốc thành Chó, rồi kết thúc Chó khôn hơn Quạ nên được ăn nhiều, còn Quạ thì ngu nên mất phần, chẳng phải dạy trẻ em khôn vặt, láu cá là gì? Sự vụ lợi dẫn đến khôn vặt, láu cá, lưu manh ấy có đúng với nội dung 1 và 2 mà ông đưa ra không? Một giờ dạy chữ đủ thời gian để tẩy não trẻ em (mà ông gọi là “dạy dỗ”) sao, nếu có thật cái trò ấy đã ngấm vào não trẻ em?

Ông có biết lý thuyết catharsis của Vygotsky không? Bản thân một nghệ thuật chân chính đã có sự thanh lọc rõ ràng bởi từ xung đột giữa hai mặt đối lập, nó luôn định hướng người đọc giải toả tâm lý từ căng thẳng đến thư giãn, cái tầm thường, dung tục sẽ loại trừ để cái đẹp, cái thiện thăng hoa. Trẻ em không thích nhân vật ác như ông tưởng tượng, trừ phi đó là loại “phỏng” méo mó, xuyên tạc như sách của các ông. Cách viết sách như ông Thuyết đã làm cho cái xấu, cái bẩn bựa thăng hoa.

Tôi nhiều năm trải nghiệm nghề nghiệp, gắn bó với mầm non và tiểu học, tôi chắc chắn hiểu trẻ em hơn giáo sư tiến sỹ phòng lạnh các ông. Tôi không tin trẻ em hoặc Thiện (Khổng Tử), hoặc Ác (Tuân Tử). Trẻ em là tự nhiên, trước khi tham gia vào đời sống xã hội, chúng “bất tư thiện, bất tư ác”. Nhưng cũng ở cái bản thể tự nhiên ấy, trẻ em lại có đủ tiềm năng của mọi thứ sau này. Chúng sẽ phát triển tính thiện hoặc tính ác là do môi trường xã hội và đặc biệt là do tác động của giáo dục. Một xã hội mà cái ác lên ngôi, một nền giáo dục mà người thầy để cho bọn trẻ thấy sự lưu manh là có lợi thì ắt tính ác sẽ hình thành trong trẻ và trở thành mối nguy hiểm cho cộng đồng.

Cuối cùng, tôi quay lại hai điều ông bịa đặt trên kia. Trẻ em bất thiện bất ác, nhưng cũng vì thế bất vụ lợi. Nó thích xem cơn bão hay lụt mà không sợ nguy hiểm như người lớn. Ông thử cho em bé một đồ chơi đẹp, nó sẽ đổi cho ông cả căn nhà bạc tỷ của cha mẹ nó đấy. Nó vô tư hồn nhiên như Tom và Jerry vậy. Dẫu nó có tạm bị cho là khôn vặt như Jerry hay gọi là thật thà như Tom thì vẫn luôn dễ thương. Hai con vật nghịch phá, “chơi xỏ” nhau bao phen mà khi gặp nạn vẫn chia sẻ và yêu thương nhau một cách vô tư. Chỉ có người lớn vì tính vụ lợi mới xem Chuột là xấu (vì phá hoại) và Mèo có ích (vì bắt chuột), trong khi nếu không có định kiến của con người, thì mèo và chuột là bình đẳng trong hệ sinh thái tự nhiên. Tác giả của Tom và Jerry đã giải định kiến đầy vụ lợi của con người để trả về tự nhiên nguyên thuỷ. Trẻ em thích phim này vì Tom và Jerry giống như chúng. Ông gán cho trẻ em thích Cám vì có mẹ yêu thương bất luận làm hại người khác, đứng hẳn về phía mẹ kế làm hại Lọ Lem để con mình thành hoàng hậu là một nhận thức méo mó, cố tình xuyên tạc, coi thường trẻ em.

Những người coi thường trẻ em không thể có tư cách làm chương trình và sách dạy học phát triển năng lực đúng nghĩa, ông Thống ạ. Nếu giao cho các ông, trẻ em không phát triển nhân cách lệch lạc thì cũng chỉ là kẻ ngồi hóng hớt nghe các ông khua môi múa mép chuyện văn chương phù phiếm để vào đời khoe chữ. Mà khoe gì chứ khoe mấy cái thứ từ ngữ tối nghĩa, vỉa hè, xó chợ như trong sách ông Thuyết thì, một là thành cậu Phước của bà Phó Đoan suốt ngày kêu “em chã” thay vì “em không”, hoặc là thành nhà thơ “hậu hiện đại” viết ra những từ và câu vô nghĩa như “nhá cỏ”, “nhá dưa”, “tợp khổ mỡ”… không ai hiểu được.

Đố các ông có tiếng là giáo sư tiến sỹ giỏi chữ, rằng cái chữ bậy bạ có làm méo mó câu chuyện chân chính và dẫn đến làm méo mó tâm hồn, nhân cách người học không?

CHU MỘNG LONG