Bìa báo lạ…

0
561

MỘT BÌA BÁO XUÂN LẠ NĂM 1955

Năm 1955, báo Ánh Sáng tại Sài Gòn ra giai phẩm xuân Ất Mùi với hình bìa nổi bật so với các giai phẩm Xuân khác. Năm đó, các tờ báo khác như báo Tin Điển có tranh bìa rực rỡ của họa sĩ Tú Duyên vẽ tranh chị em Thúy Kiều và Thúy Vân với trang phục cổ và vấn khăn, chải tóc rất gần gũi với người miền Bắc vừa mới di cư vào Nam. Tuần báo Điều Tra Phóng Sự của ký giả nổi tiếng Trần Tấn Quốc có bức tranh em bé đang tươi cười rất đẹp. Các giai phẩm Tết thời đó hầu hết in tranh của các họa sĩ, ít tờ báo dùng ảnh làm bìa vì kỹ thuật chế bản còn kém, ảnh khó đẹp. Vậy mà bức ảnh bìa của tờ Ánh Sáng lại là chân dung một cô gái rất xinh, nét gái Bắc với đôi mắt sắc. Lạ một điều là cô gái trong ảnh lại bận áo có mũ trông tựa như một chiếc… áo mưa.

Người đọc không phải thắc mắc lâu. Giở đến trang 5, có bài viết Hoa Xuân về bức ảnh bìa này của tác giả Lữ Thứ. Đúng là cô gái xuân của báo Ánh Sáng trên đất Sài gòn chụp là một cô gái Bắc, đang bận… áo mưa, và địa điểm chụp tận bên… Tàu, cụ thể là ở Quảng Châu.

Dẫn vào bài là hai câu thơ của Thế Lữ:

Tôi gặp cô một buổi chiều xuân
Một buổi chiều nồng thắm ái ân

Tác giả Lữ Thứ kể lại:

“Chiều năm ấy, anh Hoàn Bích và tôi đi thăm mộ ông Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương về. Mưa phùn lấm tấm. Xuống ô tô buýt, chúng tôi còn phải đi chán một quãng đường mới đến khách sạn Lan Đình nơi chúng tôi trọ. Loanh quanh thế nào, chúng tôi lạc lối. Mưa vẫn cứ rơi. Chúng tôi rủ nhau vào hiên của những hiệu buôn bên đường để chờ mưa tạnh.

Đang buồn vì ngày xuân mà hai chúng tôi còn đang lang bạt xứ người và ngậm ngùi vì cái cảm giác vừa qua: tiếc thương người anh hùng họ Phạm của nước Việt phải bỏ mình ở đất khách, thì có người thiếu nữ từ ngoài phố tất tả chạy vào đứng cạnh chúng tôi cũng để tránh mưa làm cho chúng tôi chú ý.

Thiếu nữ trẻ đẹp, vẻ ngây thơ. Nàng mặc chiếc áo tím màu hoa cà, người khoác chiếc áo tơi nylon màu xanh lá cây.

Anh Hoàn Bích vốn tính vui vẻ, thích làm quen, ưa gợi chuyện trên bước đường phiêu lưu, vồ lấy cơ hội. Anh hỏi thăm thiếu nữ bằng tiếng Quảng Đông mà anh vừa học được từ lúc bước chân lên đất Tàu:

– Thưa cô, không biết từ đây về khách sạn Lan Đình cạnh Ái Quần lữ điếm phải đi lối nào cô nhỉ?

Người thiếu nữ đáp lại, cũng bằng tiếng Tàu:

– Thưa… đi lối này… lối này…

Vừa nói, thiếu nữ mỉm cười đưa tay chỉ cho bạn tôi hướng của lối đi.

Bạn tôi mừng rỡ vì thấy thiếu nữ không lãnh đạm, hỏi dồn:

– Có xa không hở cô?

Giọng nói không Tàu chút nào và phải tìm nhớ từng tiếng một để chắp thành câu làm cho thiếu nữ tươi cười hỏi, và lần này hỏi bằng tiếng Việt, giọng Bắc:

– Hai ông là người Sài Gòn?

Bạn tôi ngớ ngẩn, trố đôi mắt tròn xoe, ngước nhìn tôi, rồi lại nhìn thiếu nữ, ấp úng đáp bằng tiếng Việt, giọng Sài Gòn:

– Dạ, phải. Chúng tôi là người Sài Gòn.

Rồi bạn tôi hỏi luôn:

– Cô không phải là người Tàu sao? Trời ơi. Vậy mà chúng tôi cứ tưởng cô là người Tàu. Thế cô là người Bắc?

– Vâng, tôi là người Bắc.

…..

Thế là câu hỏi qua, câu đáp lại, cái cảnh xứ lạ gặp người cùng nước khiến cho ba người chúng tôi trở nên thân mật ngay từ buổi chiều ấy. Đến ngày bạn tôi và tôi lìa đất Quảng Châu, mang theo trong cuộn phim của chiếc máy ảnh hình ảnh của người thiếu nữ Việt Nam trôi dạt ở đất Tàu, và trong lòng, mẩu chuyện tâm tình của nàng kể:

“Nàng tên M… họ H…quê ở Nam Định. Năm 1945, khi quân đội Tàu của tướng Lư Hán gỉải giới quân Nhật ở Bắc Việt, nàng bị một quan Tàu cưỡng bách bắt về làm vợ. Dưới cái áp lực của kẻ mạnh thời bấy giờ, nàng đánh liều theo số mệnh. Đến năm 1946, quan Tàu ấy về nước mang nàng theo. Chừng đến quê hương chồng, nàng mới hay chồng nàng đã có vợ, có con. Thế là sau những ngày cơ cực sống trong cảnh đọa đày của người vợ lẽ, nàng quả quyết khăn gói ra đi. Từ Thượng Hải, xuống Hương Cảng, nàng lần dò về đến Quảng Châu. Hết tiền lộ phí và lúc bấy giờ ở Việt Nam đang đánh nhau ráo riết, nàng thấy chưa tiện hồi hương nên đành lưu lại đấy, tìm được việc làm “nữ chiêu đãi” ở hiệu giải khát Diamond to nhất ở Quảng Đông để chờ cơ hội”.

…..

Nhưng nay đã tám chín năm qua rồi. Cuộc đời nàng ra sao? Đã về nước hay còn lận đận viễn phương?

Và nhân dịp xuân về, để kỷ niệm buổi chiều xuân gặp gỡ ấy, chúng tôi xin mạn phép phô bày ảnh nàng lên mặt báo để gửi một ít nhớ nhung của người giang hồ được về nước cho người giang hồ biết đâu còn lang bạt ở trời xa”.

Phạm Công Luận
(Trích sách Sài Gòn – phong vị báo xuân xưa)