Tiếng đàn bầu ai oán

0
154

Cứ vào buổi chiều về khi hoàng hôn tắt nắng, ông ba thường ra hàng hiên có hàng rào gỗ lung lay như răng rụng, bắt chiếc ghế đẩu xục xịch, ván ngồi thì bể vì long đinh!

Ngồi gác tay lên hàng rào nhưng phải vịn, và giữ chặt chớ không nó ngã ra phía ngoài đường sao!… mà lặng lẽ nhìn về phía cuối chân trời xa xăm có mây trắng bay! Có con chim nhạn lạc đàn đang kêu “oác… oác” tiếng gọi bầy thê lương! (cô nhạn thất quần chi thanh!)

Nghe sao mà quá buồn bã! tiếng kêu cô đơn, lạc lõng giữa khoảng trời chiều mênh mông, sao mà giống ông quá xá, nên ông xúc động, lại rơi lệ!

Ông âm thầm lấy vạt áo thấm nhẹ những giọt lệ rơi! Bên ông chỉ có bà vợ móm sọm và con chó già hết “xí quách” mà cha mẹ ông ở tận quê nhà “Chắc Cà Đao” xa xăm kia! có hiểu cho tấm lòng “hồi cố hương!” của ông chăng?

Lâu lâu,”liếc trước nhìn sau” rồi ông chậm rãi lén đưa ngón tay út lên khoèo nhẹ giọt nước mắt lưng tròng muốn chực rơi xuống đất đóng thành vũng! Mà ông không muốn ai nhìn thấy cảnh tượng thương tâm này! (quê lắm chớ!) rồi ông lén nấc lên và thút thít mấy cái cho nở phổi và thông cái cổ họng!

Hễ có ai nhìn vào cặp mắt đỏ như cá ươn muốn khóc thì ông giả bộ há toác miệng ra để ngáp một cái thật lớn hoặc ho lên thật to cho đỡ quê, rồi lịch sự đưa tay lên che miệng!

Trông ông buồn thiểu não, rủ rượi bởi vì ông luôn ăn mặc xốc xếch. Rồi thỉnh thoảng ông gục đầu xuống cánh tay mà thở hắt ra não lòng như “hổ nhớ rừng!” (ngậm một khối căm hờn trong củi sắt, ta nằm dài trong ngày tháng dần qua). Con chó già nằm im dưới chân ông lén nhìn ông mà mũi lòng đồng cảm!

Trong lòng ông chất chứa một nỗi buồn sâu thẳm mà có lẽ ông không còn ai là tri âm để ông thố lộ tâm can trước khi xuôi về miền cố thổ… À, ông vẫn còn duy nhất một “báu vật linh thiêng” mà ông luôn xem là người bạn tri âm tri kỷ vì nó nói lên được tiếng lòng thổn thức bao năm cùng ông! Cây ĐÀN BẦU (“ĐỘC” Huyền Cầm)! đúng như tên gọi nó “BẦU” mà lại “ĐỘC”!

Đêm khuya ông thường “so dây nắn phím” lặng lẽ một mình gởi gắm nỗi niềm tâm sự qua sợi dây đàn”độc” nhất nối liền trái bầu gỗ có cần rung …

Khi đó, ông không còn là ông “ba chó” tầm thường áo sơ mi quần xà lỏn như mọi ngày nữa hay bị vợ sai vặt ra chợ mua tiêu, hành, mắm muối dzìa nấu canh, kho cá…lẹ nghen cha! Mà ông đã trở thành một nhà… “ĐÀN -BẦU -HỌC”! hay chính xác hơn là nhà
“BÁC HỌC – PHÙ – THỦY – ÂM -NHẠC – “ĐỘC”- HUYỀN – CẦM – VIỆT – NAM”.

Tự nhiên, ông cảm thấy hãnh diện, lỗ mũi ông phồng to hơn, ông cúi đầu e ấp, thẹn thùng đỏ mặt một mình trong bóng đêm! Ông nhắm mắt, mơ màng, ông thấy ông thướt tha trong chiếc áo dài lụa Tân Châu màu xanh dương, đầu đội chiếc khăn đóng cùng ton màu,chân mang đôi giày cuir Gia Định đen bóng, ông bước đi khoan thai (như Tổng thống duyệt hàng ghế danh dự!), ông cúi nhẹ người chào cử tọa những tràng pháo tay liên tiếp vang lên không dứt, một lần nữa ông cúi chào như thầm cám ơn cử tọa đã quá yêu mến – mê đắm – say sưa tiếng đàn của ông, rồi ông ngồi xuống và từ từ tay phải ông cầm phím gãy vào dây đàn “bựt, bựt”.tay trái ông rung trái bầu ngân nga da diết khúc “khải hoàn” ông cao hứng…

Nga nga hồ chí tại cao sơn, dương dương hồ chí tại lưu thủy! (vun vút thay chí tựa núi cao) (cuồn cuộn thay như sóng triều dâng) tiếng vỗ tay vang dội không ngừng làm ông sung sướng ngất ngây…

Dưới hàng ghế khách mời danh dự kia ! có một nàng thiếu nữ “tiểu thư đài các” rất trẻ, mà phải đẹp cơ, mà phải quí phái nữa chớ! Thuộc hạng tứ đại mỹ nhân! “Trầm ngư -lạc nhạn-tu hoa-bế nguyệt”
Mà phải mặc soiree đỏ, mà phải mang giày piste cao một tấc sáu cùng màu đỏ để ton sur ton ông mới chịu (đã ước mơ thì mơ cho đã luôn ai cấm!) ôm bó hoa hồng thật to cũng phải màu đỏ nhung (mà phải trên một trăm bông) lên trao tặng ông, đôi mắt ướt át ngấn lệ và nàng thốt lên (giọng trong vắt như pha lê,thanh thoát như chim vành khuyên líu lo thỏ thẻ…):

Ôi! nhà “ĐÀN-BẦU-HỌC” thần tượng của lòng em, và xin phép nhè nhẹ đặt một nụ hôn nồng cháy lưu lại vết son môi đỏ chót lên gò má xương xẩu của ông. ông xao xuyến đê mê sung sướng tay phải ông đưa lên xoa nhè nhẹ con tim nằm trong cái lồng ngực lép xẹp đang thổn thức đập cộp cộp…cộp cộp…mà lim dim tận hưởng!
Bỗng:…

-Dzô ngủ ông, sương xuống lạnh mỏ ác cảm lạnh, rồi mai bắt tui cạo gió dzô! (vợ ông thúc giục biểu vô ngủ) ông giật mình!

– Từ từ (ổng xụi lơ) bà ngủ trước đi! (Cái bà này…!) làm người ta cụt hứng!

– Mơ…con mẹ nào mà cụt hứng…hả!

Ông thở ra lắc đầu, buồn bã trong bóng đêm…

Khi đó, ông mới thật sự trải lòng mình ra như bà Tùng Long chuyên mục “Gỡ rối tơ lòng” để giở ngón độc chiêu luyến láy, nhấn nhá, rung ngân, lay động lòng người hết sức độc đáo! Có một không hai trên cõi đời ô trọc này!

Ông say sưa rung lắc cái cần, rồi lại lắc cái đầu nhè nhẹ, vòng tròn (như ông nội ông hồi nhỏ học “tam tự kinh” nhân chi sơ tính bổn thiện!) theo âm thanh du dương huyền ảo giống như ông đang thổ lộ, đang bộc bạch, đang tự sự, ông mượn tiếng đàn để “tâm sự đời tôi”, ôi sao mà nghe nó ảo não, ai oán, thê lương đến phát sợ luôn!

Nói dại, ai mà lỡ bị…
“- nhà dột nợ đòi … – Heo toi dịch vật..”.
“- Lừa đất mất nhà… -Phú gia vỡ nợ …”
” – Vợ bỏ theo trai… – Thi rớt tú tài …”
” – Trai gái thất tình…- Kinh niên …đại bịnh! “
… tứ chứng nan y … vào giai đoạn cuối!…

Tất cả, mà nghe tiếng đàn ông ba rung ngân, da diết, thê lương thì chỉ có đường tranh nhau mà thuê xe ôm “mau mau” tìm ra cầu Bình Lợi gieo mình theo hầu hà bá Diêm vương cho xong cái nợ đời! Không thì ít ra cũng “mua sầu chuốc não tê tái năm này tháng nọ” lẹt đẹt, cao lớn không nổi!

Nhiều bà già trong xóm còn “lo âu ,sợ sệt” mà nói:
– Nghe tiếng đàn ông ba “độc” đến nổi.”chưa bịnh thì phát bịnh, hễ bịnh nhẹ thành nặng, mà nặng thành nan y, nan y thì hui “nhị tỳ”sớm!
– Ôi, sao nghe mà rùng mình, nỗi da gà, khiếp vía. dễ sợ quá dzậy bà!
– Có thiệt hông bà!
– Bà hổng tin hả! Hôm nào lắng nghe bữa coi!
– Thôi bà! Tui còn yêu đời lắm!
Có người còn rầu rĩ:
– Chắc phải bán nhà đi theo” út Trà Ôn, dzìa Cà Mau bán chiếu”,để tránh tiếng đàn ai oán của ông ba quá!

Mà cũng đáng sợ thật, có khi tiếng đàn ông ba rung lên giữa đêm khuya mà sao…”Chó tru thì tắt tiếng gà gáy phải hụt hơi”, lạ lùng lắm!

Còn người nghe không “vững thần tĩnh trí” có thể dẫn đến “rầu thúi ruột thúi gan” phải vô bịnh viện Bình Dân mổ cái cục sa “búi trĩ “đó! Tiếng đàn gì mà quá ghê, quá dễ sợ thiệt…

Hahaha… Hahaha… Mà ngược lại, cũng ngộ lắm nhen..hahaha…hahaha… tức cười thấy mẹ …luôn! Đêm đêm mà thiếu tiếng đàn du dương của ông ba thì mấy ông bà già trong xóm lâu nay bị bịnh mất ngủ kinh niên cũng thở ra lo âu,”than ngắn thở dài”! trằn trọc, thao thức ngủ không được. Phải uống thuốc trợ tim ,an thần bổ não, mà hễ nghe một khúc “liên trì dạ khúc” (sen đêm trong hồ -theo tg) thôi là “mát ruột mát gan” như uống Hà thủ ô nhuận trường quanh năm là định tâm an giấc, nằm há hốc cái lỗ miệng ra nước miếng chảy ướt cả bọc gối mà vẫn ngáy khò… khò… khò…khò…ngay, đỡ tốn tiền uống thuốc… hahaha…

Con nít nóng người nổi sảy, miệng mồm lở đẹn, sốt lên ban sởi, nổi rạ, đau mình nhức mẩy, bức rức chân tay, khóc đêm khó dỗ ngủ hay giật mình, thấy thiệt tội nghiệp hết sức!
Vậy mà chỉ nghe tiếng đàn ông ba du dương một đoạn “ấu nhi miên dạ” (trẻ thơ ngủ đêm -theo tác giả) thôi! là ngủ ngon thẳng cẳng, không thèm cự quậy trở mình, xấp nhỏ đê mê sướng quá, chỉa chim thẳng đứng tự chơi một đoạn xè xè…”cầu vồng dạ khúc” (khúc đái dầm đêm – theo tác giả) tại chỗ luôn, làm ướt lây cái quần lãnh Mỹ A mới may của má nó, làm má nó hậm hực vỗ đít nó cái bốp:

-Cái thằng, xi thì hổng đái, làm ướt lây…

Còn nữa, mấy bà lâu ngày “thèm sò lông “, mấy ông “mê sò huyết” nướng hành mỡ, to mồm lớn miệng tranh nhau nhai nuốt cho đã đời!
– Anh hai, làm cái cho mát cổ họng, tới đâu tới mờ!
– Ừa, làm thì làm sợ mẹ gì, dzô cái đi cô tư!

Cùng nhau chén chú chén anh nốc … ực…ực…chai lade con cọp cho mát cái cổ họng!
xực…xực…em sò lông, sò huyết cho đã cái thèm! Đến khi tê tê rân rân người, nữa đêm mát ruột nằm ngủ phơi “lỗ rốn” lạnh bụng, xức cả hủ dầu cù là” mác- su” mà cũng “hổng si -nhê, hổng ép phê! ” mới lạ chớ, ác nhơn chớ, bị cha Tào Tháo bên tàu qua đây làm gì, chả rượt chạy có cờ cả đêm ôm bụng gập người, mắt nhắm miệng rên mặt nhăn như khỉ ăn ớt chạy lên chạy xuống, bơ phờ thần sắc, xanh xao mặt mày, vợ bóp họng dộng thuốc tây la:”uống dzô”, không cầm, chồng sắc thuốc bắc đè xuống mắng:”hả họng ” không ngưng, dzậy mà chỉ nghe ông ba đàn một đoạn ngắn…”bế môn hậu khúc “(khúc đóng cửa sau ! theo tác giả) thì nam nữ trẻ già, chú thím, cậu mợ, hết té re, tự ngưng ngay tức khắc, mặt mày tươi rói tỉnh queo!

– Cùng nhau lập đàn thờ xin thề, từ rày về sau mà thấy bóng sò lông, trông giống sò huyết thì đành ca bài “không, tui không còn, tui không còn yêu em nữa”, kể cả thổ tả, tiêu chảy kinh niên lâu ngày mấy ông thầy thuốc nam bó tay, mấy bà cô thuốc bắc lắc đầu, chỉ cần đến xin thầy ba chó” cho nghe một liều “bế môn trường khúc” (khúc đóng cửa lâu dài -theo tác giả) không những cầm chắc chắn, mà còn “chặt bụng” có thể bị táo bón cả tuần lễ về sau, và nếu muốn trở lại “tiền nhập-hậu xuất” bình thường thì xin thầy ba chó cho nghe đoạn “khai môn trì khúc” (khúc mở cửa chậm (từ từ) – theo tác giả) mà không cần phải nhờ tới thuốc xổ, hay hột cây bã đậu sao khử thổ gì cả.

Tội mấy bà già than thở, đêm khuya, xấp nhỏ ngủ rồi, nhiều khi thèm tô mì gói, cái bánh giò, bánh chưng, mới nghe nó rao, nó gỏ đó, chưa kịp kêu mà nghe ông ba đàn, tự nhiên nó phát no ngang, thôi dzậy cũng được đỡ tốn tiền!

Có bà còn đía thêm. Ăn thua gì, bụng bầu “chình ình”kìa, gần ngày trở dạ, vậy mà nghe tiếng đàn ổng khúc”khai hoa nở nhụy” là sợ phải nín đẻ thời gian, hổng dám chui ra đó bà!

– Đúng là đàn “BẦU ” ông ba chó “ĐỘC” thiệt! “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”, ai biểu tui nói hổng tin…

Không ai biết ông ba chó từ đâu trôi dạt về khu Nguyễn Thông này rất sớm! Lúc mới về. ông ba đi đầu, ổng đeo trên lưng tay nải áo quần, tay ôm khư khư cây đàn bầu, xa xa nhìn như” hiệp khách hành”, bà ba thì tay xách giỏ lát, tay cầm sợi dây tròng cổ con chó già dắt theo làm bầu bạn (nhìn bả giống như mấy tay “lái cầy” có hạng!)

Khuôn mặt ông ba không có nét gì đặc sắc, mặt thì hơi dài, nước da trắng tái như vừa bịnh “sốt rét rừng” dậy ! đôi mắt “tam bạch nhãn” hơi lồi (chết đường chết chợ) nhưng ánh mắt nhìn thì tinh tường, người ít nói, kín đáo, gặp hàng xóm chỉ cười xã giao!

Ông đã tự thề với lòng mình “sống để dạ. chết mang theo “, dù nhiều hôm lai rai, Bác năm Tô, Bác Sáu cũng dò hỏi quê hương bản quán nhưng không cạy được răng ông ba nửa lời… Ổng thường đánh trống lãng bằng vài câu hò sông nước… 
Hò… …ơi !…
“Bậu ơi! Qua nói… bậu nghe
Cắm sào tìm chỗ nơi ghe đậu nhiều 
Nữa đêm gió nỗi cột xiêu
Ghe qua ghe bậu cùng neo chặt vào!
… … … …
Xa quê… Xuôi mái cắm sào!
Nỗi ai oán mượn đàn bầu… giải oan!
Chuốt nhau… chén rượu tâm can
Quê hương…cố lý ! trăm ngàn.. .nhớ hương!

Có lúc say quá chén , hò xong ổng bật khóc huhuhu như trẻ con, nước mắt ràn rụa!
Ai trông thấy cũng thương cảm…

Ông ba quý nhất là cây đàn bầu, có lúc ông ôm khư khư giữ chặt như người ta ôm giữ đứa cháu nội trong lòng sợ bị “mẹ mìn” bắt cóc! Trong nhà, ổng đóng một cái hộp treo dính vào vách gỗ để đựng cây đàn bầu, bên ngoài có ổ khóa thường xuyên, ổng dặn bà ba không được đụng tới cây đàn bầu!

Thập niên 60. Lúc đầu khu xóm Nguyễn Thông chỉ là bãi đất trống ,nhà ga chưa xây tường bao, đứng đầu cổng xe lửa Hòa Hưng bên này còn nhìn thấy cống bà xếp bên kia, bà con lai rai, xếp hàng thứ tự đi “building năm ngăn, bảy ngăn “công cộng! Cỏ thì cao lút đầu, sình lầy vào mùa mưa, lối đi bằng đường đất gạch đá! Khi đó, trăn rắn còn lượn lờ rong chơi, cầy cáo còn nô đùa giỡn hớt!

Dân cư, nhà cửa còn thưa thớt, xe cộ dăm chiếc, đếm đầu ngón tay. Mọi người, cư dân bản địa chỉ lấy cổng ga xe lửa làm điểm trung tâm để chỉ đường tìm nhà. Đến khoảng 1961.thì mới bắt đầu hình thành khu xóm, nhà cửa xây cất đơn sơ, dọn dẹp sình lầy, đắp đường be lối, từ từ mới khang trang…

Một hôm, ông ba nhận được lá thư, nhưng vì mù chữ gia truyền! Nên ông suy nghĩ và thấy trong xóm có anh hai Hưng (ba tôi) là người kín tiếng có học mà ổng tin tưởng, nên đem lá thơ qua nhờ anh hai xem giúp. Ba tôi xem sơ qua rồi nói nhỏ:

– Trong thơ có nhắc Bình Xuyên và vàng gì đó!” Tư dao găm gởi lời thăm anh ba “sức phẻ”, dạo này anh ba quên bọn đàn em sinh tử rồi sao? Còn chút đĩnh anh ba định … Ông ba mặt tái xanh, trợn mắt há hốc miệng như á khẩu,.rồi ổng nhanh tay xin lại lá thơ và khẩn khoản:

-Xin anh hai thương tui, đừng cho ai biết kẻo “tai vách mạch rừng “, tội tui nghe anh hai, anh ba yên tâm, tôi không phải người không biết chuyện đâu, yên tâm đi … Ông ba thở ra, thầm cám ơn ba tôi rồi nghĩ bụng đúng tụi nó là lũ “ma xó” mà!

Rồi ổng tâm sự chân tình, thuở niên thiếu, nhà ổng nghèo “rớt mồng tơi “, thiếu điều “cạp đất mà ăn”, ở tận cái xứ “Chắc Cà Đao”(An Giang) “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội (lềnh) như bánh canh”, “khỉ ho, cò gáy “, thuở còn “cá sấu lang thang, đĩa rùa lầy lội, rắn trăn nô đùa!”

Tui trốn cha mẹ bỏ nhà,.theo gánh hát “Sóng Giang” của bầu” Tư Cà Ràng” trên huyện, chỉ là đứa sai việc để kiếm cơm qua ngày! Cuộc sống, rày đây mai đó, rồi dần dần thành dân tha phương cầu thực , trôi nổi theo bọn giang hồ cướp cạn lúc nào không hay!

Tới lúc trôi dạt về đất nhà Bè, lấy vợ là người ấp Bình Xuyên, làng Chánh Hưng.
Đến năm 1945, Dương văn Dương thủ lĩnh thống nhất các nhóm giang hồ Nam Bộ lập nên lực lượng Bình Xuyên trải dài ở Tân Quy ,Tân Thuận, Nhà Bè, Thủ Thiêm, tụi tui xung phong theo phò tá liền…

Ông ba giỏi võ (chớ không phải võ say nhừa nhựa như bác Sáu, “Võ Tòng depot “đâu !)
Dưới tay tui có cả trung đội lính , toàn tụi anh em giang hồ thảo khấu “nhập tù xuất khám” như cơm bữa! Sẵn sàng sinh tử đâm chém theo lệnh … Tui coi ngó khu casino Kim Chung, Đại Thế Giới võ khí trang bị tận răng, nên tiền bạc dư thừa, nhất dạ đế vương! ăn chơi thả cửa …mà sao lúc đó tui hổng có nhớ cha nhớ mẹ nhen…hay thiệt đó anh hai!

Tới năm 1955… Thì lính ông Diệm phá căn cứ đại bản doanh Bình Xuyên ở cầu Chữ Y ,khiến quân Bình Xuyên tụi tui phải triệt thoái khỏi Sài Gòn -Chợ Lớn rút về rừng Sác cố thủ. Sau đó, bị truy sát, quân Bình Xuyên bị tiêu diệt hoàn toàn và tan rã, mà tới lúc sa cơ thất thế thì lại nhớ nhà thấy mẹ, lạ quá anh hai hen!

Ông ba dẫn vợ âm thầm về quê lẫn trốn ,ẩn thân một thời gian, thấy im im lại lặng lẽ “biệt vô âm tín ” trốn lên Sài Gòn lập nghiệp dạt về Nguyễn Thông ẩn cư.
– Hèn gì! ổng bả sống kín đáo, ít giao du với chòm xóm!

Bà ba ốm yếu hom hem bị bịnh” thương hàn “rồi chuyển qua “ho lao “nặng. Tội nghiệp bảy Ngà, con gái bác Sáu hàng xóm (làm như mắc nợ bà ba từ kiếp trước !) nào là sắc giùm thuốc bắc quanh năm, nấu cháo trường kỳ, nồi xông lá ổi lai rai…thuốc men giúp đỡ sớm khuya tận tình, không quản ngại mưa nắng đêm hôm!

Mấy bà già lại ghẹo bảy Ngà, làm phước để đức cho con, hả bảy Ngà, giúp nhau lúc hoạn nạn” tối lửa tắt đèn” mà mấy bà bác!

Rồi một hôm… Con chó già từ từ rụng lông hết “xí quách “thiệt! Nó nằm xụi lơ nước mắt ràn rụa, biết mình không qua khỏi, nó nhìn ông bà ba như thầm nói lời tri ân dưỡng dục lâu nay, để về cõi bồng lai tiên giới cùng các cụ nhà chó! Tới trưa nó gắng liếm chút sữa trong dĩa rồi trút hơi thở cuối cùng! Vĩnh biệt cuộc đời chó má, nó ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của ông bà ba, không khí ảm đạm như “tang gia bối rối” bao trùm lên nhà ông ba, thật quá xót xa!

Chỉ tội bảy Ngà lại ra tay nghĩa hiệp, chở xác con chó già định đem qua bỏ vào trong bô rác bên cầu “sở rác “Trương Minh Giảng, ra tới đầu hẻm thì lại sực nhớ mấy thằng “cô hồn sống” xóm nhà lá trên kinh Nhiêu Lộc sình lầy, ốm đói lâu ngày thiếu chất thịt, bị muỗi chích ghẻ chóc đầy mình mà thương! Đành chở tới cho tụi nó hạ “cờ tây bảy món”. Tụi nó mừng như “bắt được vàng”, rối rít cám ơn chị bảy Ngà, trăm ngàn lần! Còn bày đặt chúc chị bảy,.vạn tuế- vạn tuế- vạn vạn tuế.nghe cải lương thấy mẹ…hahaha.
Bảy Ngà cảm động quá xá, nghĩ mà quá tội thương cho tụi nó! Nhưng khi về ông ba hỏi thì nói:

– Chôn ở nhị tỳ Quảng Đông bên hông chợ lớn lận, “mồ yên mả đẹp”mà, hổng có lo. Còn thêm “nghĩa tử là nghĩa tận “mà! Ông ba cảm kích tấm thịnh tình của bảy Ngà lắm! Nhất là cái tính “bao -đồng -quán- quân” có một không hai thấy phát sợ luôn!

Bà ba bịnh càng ngày càng nặng, phần nhớ con chó già mà ốm sọp người ra ,bồi bổ thuốc men không lại sức. Lây lất ôm cơn bịnh thời gian dài thuốc thang chạy chữa không khỏi…
Bà ba ra đi …giữa khuya mùa lạnh năm ấy ! mà ông ba không hề hay biết! Sau khi nghe ông ba đàn khúc “Hạng võ biệt Ngu Cơ”, bả mỉm cười gật gù nhắm mắt về nơi chín suối…

Đến sáng, ông ba chưa thấy bả dậy thì nghĩ “để bả ngủ thêm chút nữa”, tội nghiệp. Đến quá ngọ ổng vào lay dậy …thấy bả cứng đơ thì mới biết bả lặng lẽ bỏ ổng ra đi mà không lời từ biệt, trối trăng!

Ngày di quan ,chỉ mình ông ba chít tang để tương kính vợ, tay trái quyết ôm khư khư cây đàn bầu, ai cũng nghĩ là ổng sẽ gãy khúc “phu phụ biệt ly”, não nề, ai oán, thảm sầu quỷ khốc, mây giăng kín lối, gió thổi tơi bời, bên mộ phần bả để tiễn đưa bà ba về nơi cực lạc bồng lai giống như Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài sét đánh “cái rầm”, tét ngôi mộ làm đôi Lương Sơn Bá chui dzô ngôi mộ khép lại hahaha… hahaha… cải lương thấy mụ nội!

Nhưng không ổng chỉ ôm khư khư như người ta giữ chặc ghì cứng thùng tiền “phước sương” ở đình, chùa, miếu mạo, sợ bọn trộm rinh mất mà thôi! Cuộc đời hẩm hiu của ổng còn gì đâu để đáng sống, con chó già trung thành cũng “hết xí quách”ra đi!

Người vợ “đầu ấp tay gối” đã từng sai vặt ông đi chợ mua tiêu hành mắm muối, cũng hát khúc “biệt ly nhớ nhung từ đây!”. Duy chỉ còn cây đàn bầu mà ông đang ôm chặt trong tay là bầu bạn, là vật “bất ly thân”là lẽ sống đời ông!

Ông cúi xuống ôm cây đàn bầu đưa lên cái má gầy gò xương xẩu mà nựng nịu hôn hít nó, ông rít lên ngọng nghịu”ưng oá y, ưng oá y! “Như bà nội, bà ngoại nựng cháu, “cưng quá đi, cưng quá đi “… dzậy! Ông nghĩ dại “nếu một đêm đẹp trời mầy nỡ bỏ tao mà theo thằng kẻ trộm thì tao sống làm gì nữa!” Ông miên man suy nghĩ trên đường về mà nước mắt lưng tròng thành giọt chảy dài trên đôi má nhăn nheo móm sọm thảm thương.
Ai nhìn cũng xót xa thương cảm!

Ông sống âm thầm vào ra lặng lẽ trong căn nhà xập xệ, như cái bóng vô hồn! Ông cũng thưa dần tiếng đàn bầu hơn trước. Mấy ông bà già trong xóm, ngày đêm than thở dạo này, khó ngủ quá, ngủ không được, con nít thì bứt rứt, cẳng rẳng, khóc cả đêm, vì nhớ tiếng đàn của ông ba! Già trẻ bé lớn đều sụt ký lô ốm thấy rõ, vì trằn trọc thức đêm, hai con mắt lõm sâu, vì ông ba ít chơi đàn…

Rồi cả xóm tụ tập nhau lại như hội nghị Diên Hồng, đòi hùn tiền giúp đỡ ông ba chợ búa hàng tháng, cốt chỉ để ông ba chơi đàn lại như xưa… Người già, con nít không khóc ngủ được thì đỡ bịnh, mà đỡ bịnh thì không tốn tiền mua thuốc phải quá đi chớ!
… … … …

Rồi một hôm, bếp núc cơm nước hàng ngày như thường lệ… Ông ba lụm khụm sơ ý làm đổ bếp dầu lửa lan ra sàn nhà, phực cháy bùng lan vào vách gỗ mục, ngọn lửa bén nhanh lan rộng, ông không kịp với tay lấy cây đàn bầu còn nằm trong hộp khóa kỷ, dính cứng trên vách gỗ, vì ông quên khuấy chìa khóa ông cất chỗ nào, ông cứ loay hoay xoay mòng mòng tìm kiếm, trong khi chiếc chìa khóa ông ghim hàng ngày, bằng cây kim băng bên hông lưng quần xà lỏn mà bị cái áo sơ mi phủ ngoài nên ông quên khuấy…

Ông la thất thanh để cầu cứu hàng xóm trong tuyệt vọng… Chốc lát cả hộp đàn đã làm mồi, cho bà hỏa và từ từ cháy thành than. Hàng xóm đến giúp ông, tay xô, tay chậu, nhưng đã muộn màng! Ông gào thét khóc la, bới móc trong chiếc hộp đàn thành than kia, chỉ còn đọng lại một ít nước sền sệt màu vàng xen lẫn tro than đen đúa nham nhở, rồi dần dần khô lại!

Ông đứng như trời trồng giữa căn nhà gỗ cháy rụi còn đang âm ỉ bốc khói, mùi khét lẹt, khói còn đặc quánh vây quanh, hơi nóng còn hừng hực. Ông trừng trừng nhìn lên bầu trời trong xanh trưa nắng như ngây dại, tay ông nắm một chút sền sệt màu vàng đen lẫn lộn còn bốc hơi mà ông không hề biết nóng! Không còn nước mắt để khóc, trong sự tuyệt vọng cùng cực này! Ông đổ gục xuống…

Mọi người bàn tán…

-Chèn ơi, lâu nay ông ba giấu vàng trong bụng cây đàn bầu, tội nghiệp ổng, “chạy trời không khỏi nắng” mà, tránh thằng ăn trộm lại bị bà hỏa viếng thăm…
-Hèn gì, đi đâu ổng cũng ôm khư khư không cho ai đụng vào kể cả vợ ổng, chờ khuya thanh vắng ổng mới dám đem ra chơi!
– Chèn ơi! ăn hổng dám ăn, ngủ hổng dám ngủ, cũng vì cái đàn vừa “bầu vừa độc” thiệt ác nhơn hết sức!

Hàng xóm thấy thương, kêu ông qua nhà họ nghỉ tạm “bầu ơi !thương lấy bí cùng” mà, rồi từ từ dọn dẹp sửa sang lại nhà cửa hãy hay… Ông thất thần không nghe, ông thất thiểu bước đi vô hồn…

Cuộc đời của ông từ niên thiếu hiện về trong ký ức, nghèo khó cơ cực, dốt nát đắng cay, gan lì tàn nhẫn, sợ sệt lo âu, ông đã trải qua. Kể cả,”thất tình lục dục “trong cuộc đời ô trọc này! Nên hiện nay tất cả đối với ông không còn ý nghĩa sống nữa, ông thẫn thờ ngây dại bước đi vô định trong tuyệt vọng cùng cực…
… … … …

Hai hôm sau, trong mục rao vặt “xe cán chó, chó cắn xe” của nhật báo Trắng Đen có đăng mẫu tin ngắn: “một người đàn ông khoản lục tuần, nhảy cầu Bình Lợi tự tử. Hiện xác đã được vớt lên, quàn tại nhà xác bệnh viện Y, ai là thân nhân, xin liên hệ, để lo hậu sự!”

Và từ đó… hàng xóm không ai còn thấy ông ba, trở lại căn nhà cháy nám kia! Hàng xóm bàn tán, biết đâu chừng ông ba đã đón xe đò trở về quê hương bản quán và được cháu chắt đón tiếp nồng hậu nuôi dưỡng đàng hoàng như tiên, cũng mong là vậy!

Hay hương hồn ông còn vất vưởng đâu đó. Xin một nén hương lòng thành kính phân ưu, cuối trời mây trắng bay!

TRƯƠNG HÙNG 
7/2018

NO COMMENTS