Một thời vang bóng…

0
44

Đây là bốn cây cổ thụ của làng tân nhạc Việt Nam. Mà công chúng miền Nam đã xưng tụng là “Tứ Trụ Nhạc Vàng” gồm Chế Linh, Hùng Cường, Duy Khánh và Nhật Trường .

Rất xứng đáng là những “Ông Hoàng Nhạc Việt”, vì bốn nhơn tài này ngang tài ngang sức . Mỗi người đều có một tài năng thiên bẩm, có thế mạnh riêng trong mỗi con người .

Trong tứ trụ nêu trên, hiện nay chỉ còn một “trụ”, đó là danh ca Chế Linh .

Điều thú vị hơn cả, là có sự giống nhau về tuổi tác. Cặp Hùng Cường và Duy Khánh đều sanh năm 1936, còn Chế Linh và Nhật Trường sanh năm 1942 .

Trong bốn vị “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” này, có những điểm giống nhau và khác nhau như sau :

1. Là những Nam danh ca được đồng bào miền Nam trước 1975 và đến sau này ái mộ .

2. Không ai là người của Hòn Ngọc Viễn Đông. Đại diện cho bốn vùng đất khác nhau. Duy Khánh ở Vùng 1 Quảng Trị. Chế Linh ở nơi nắng gió cát Ninh Thuận . Nhật Trường thì lớn lên ở Phan Thiết . Còn lại là Hùng Cường thì ở xứ dừa Bến Tre.

3. Cả bốn người đều là ca sĩ kiêm nhạc sĩ.

4. Cả bốn đều đào hoa phong nhã, các bóng hồng đeo đuổi vô số kể, chạy sô thăm cô này đến cô kia, mệt thở hông muốn ra hơi … Đứng đầu bảng xếp hạng là Chế Linh, với bốn vợ và 14 đứa con. Vị đứng thứ hai là Nhật Trường với bốn vợ và 6 con. Còn Ông Hùng Cường này, trên lý thuyết có một vợ chánh thức. Nhưng bồ bịch, đếm sao kể xiết … Đáng làm sư phụ hai ông vừa nêu . Đứng chót bảng là Duy Khánh, tuy hơi kín tiếng, những cũng có tới hai … Nàng!

Còn về điểm khác nhau thì sao :

Hùng Cường hát nhiều, nhưng ít sáng tác. Chỉ vài bài thôi, đó là: Đêm trao kỷ niệm và Về thăm xứ lạnh. Nhưng rất nổi bậc về tân nhạc, Cải lương, Kịch nói, Phim ảnh… và đặc biệt là võ sĩ cừ khôi từng thượng đài thi đấu.

Nhật Trường ngoài ca hát, Ông còn sáng tác rất nhiều với tên Trần Thiện Thanh. Sáng tác hai thể loại nhạc tình và nhạc lính.

Duy Khánh thì người ta gọi chung là ca nhạc sĩ Duy Khánh, Ông sáng tác những nhạc phẩm để đời như: Ai ra xử Huế, Thương về miền Trung, Xin Anh giữ trọn tình quê, Trường cũ trường xưa, Biết trả lời sao …

Cuối cùng là Chế Linh, cây trụ còn lại vẫn đứng vững. Khi sáng tác thì có tên là Tú Nhi . Những nhạc phẩm của Ông cũng không hề kém cạnh “Ba cây cổ thụ” kia . Với : Ngày đó xa rồi, Mai lỡ mình xa nhau, Đoạn cuối tình yêu, Bài ca kỷ niệm, Đoạn tái bút, Đêm buồn tỉnh lẻ… và một số ca khúc khác viết chung với Vinh Sử như: Nhẫn cỏ cho Em, Hai bàn tay trắng, Nhớ người yêu…

Rất tiếc, ba trong bốn trụ đã đi về cõi vĩnh hằng. Mong sao trụ còn lại ráng giữ gìn sức khỏe, để đem lời ca tiếng hát phục vụ công chúng cho tới ngày không còn khả năng hát nữa …

HỒNG TRUNG

Hổm rày toàn viết về ca nhạc sĩ, điện viên điện ảnh, các quý bà quý cô và các vị con nít nhỏ không hà … Mà quên đi một số lượng lớn tài năng thiên bẩm trên lãnh vực sân khấu cải lương .

Vì sợ các vị phụ huynh, phụ mẫu cải lương phân bì, nói là tui thiên vị, hông công bằng… Nên nay nói sơ qua một chút về những bậc tiền bối vang bóng một thời của môn nghệ thuật cổ truyền sắp đi vào mai một…

Kể từ khi nghệ thuật cải lương bắt đầu hình thành qua vở “Kim Vân Kiều” của Thầy tuồng Trương Duy Toản, được trình diễn ở Rạp Mỹ Tho hồi tháng 3 năm 1918, thì ngành cải lương bắt đầu lớn mạnh chưa từng thấy…

Mà thời vàng son bậc nhứt là giữa thập niên 1950 tới 1960 và giữa thập niên 1970, hé lộ nhiều giọng ca mượt mà, điêu luyện, lối diễn xuất độc đáo. Đã làm say mê biết bao người yêu thích .

Đó là giai đoạn huy hoàng của các tài danh nổi tiếng của Miền Nam xưa như: Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Minh Cảnh, Minh Vương, Minh Phụng, Dũng Thanh Lâm, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ …

Mượn lời của Đại thi hào Nguyễn Nguyễn Du để nói về các vị này: “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, mỗi người đều có cái hay riêng, chẳng ai giống ai cả…

Như giọng của Út Trà Ôn thì ấm áp ngọt ngào, thắm đượm tình quê, bài Tình Anh Bán Chiếu là minh chứng .

Giọng Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm thì có làn hơi êm dịu, tươi mát tuôn chảy. Nhứt là Hữu Phước rất nổi trội về lối sắp chữ, nhồi chữ và luyến láy rất tinh vi, qua bài Quán Nửa Khuya một thời vang bóng .

Trong khi đó làn hơi của Út Bạch Lan, Thanh Nga, Mỹ Châu nghe rất trầm buồn ray rứt cũng như “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn” của nhạc sĩ Thanh Sơn vậy!

Giọng Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Phượng Liên thì ngọt ngào réo rắt như gợi lên một nỗi niềm mông lung, xa vắng …

Minh Vương thì mượt mà, cao ngất “Trường Sơn”, truyền cảm tuôn chảy dập dồn.

Còn Minh Cảnh thì trầm ấm, điêu luyện, thống thiết khi bộc lộ nội tâm của một vị chơn tu qua bài Tu Là Cội Phúc.

Minh Phụng thì trong veo như mặt nước hồ thu, lảnh lót như tiếng chim rừng gọi đàn lúc ban mai .

Tấn Tài thì vô cùng đặc biệt, không ai nhái được, một giọng rất trầm buồn, hay nhứt là Ông lên vọng cổ, biệt danh là Ông Hoàng Đĩa nhạc, là thân phụ của Tấn Beo, Tấn Bo bây giờ …

Thôi tui xin tạm dừng ở đây, vì nói một tháng nữa cũng chưa hết những tài năng của những người ở lãnh vực cải lương trước 1975. Họ tài ba xuất chúng, đến nỗi không có hậu sanh nào xứng đáng để kế thừa .

Nhưng đáng buồn ở chỗ, môn nghệ thuật này sắp bị lãng quên, sắp bị chôn vùi mà khỏi cần lấp đất, mang bản sắc riêng của dân tộc, mà bị mai một mòn mỏi theo năm tháng …

Song song đó, những môn “tào lao mía lao” thì luôn đứng vững. Quả là lợi bất cập hại, Người tính hông bằng Trời tính …

HỒNG TRUNG

NO COMMENTS