30/4 nhìn lại…

0
72

Nhà văn Dương Thu Hương, một người đã có thời hết mực tận tụy với đảng Cộng sản Việt Nam và tự nhận là “thuộc thế hệ xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” đã có lần công khai bày tỏ rằng, tháng Tư năm 1975, khi từ Hà Nội tiến vào thành phố cùng đoàn quân “giải phóng”, bà đã ngồi trên lề đường của Sài Gòn ôm mặt khóc:

Bà Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn:

Tôi vào chiến trường năm 1968 là vì lòng yêu nước truyền thống. Lúc ấy đó tôi tưởng rằng đó là cuộc chiến tranh chống xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam. Cho nên giống như cha ông chúng ta, hễ quân Minh, quân Thanh đến là đánh thế thôi.

Nhưng mà sau khi vào Sài Gòn, thì tôi biết rằng một cuộc chiến tranh khác lại nảy nở trong tôi. Tôi nghĩ là cuộc chiến tranh trong lòng tôi nó lâu dài và khốc liệt hơn, vì lúc bấy giờ, khi người khác vui sướng nhất thì tôi hiểu rằng tôi hoàn toàn lầm lạc.

Theo tôi, đây là cuộc chiến tranh giữa hai phe và người Việt Nam đã chia ra thành hai đội quân đánh thuê cho hai phe và dù gì chăng nữa thì cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ. Và điều đó khiến tôi hết sức cay đắng.

Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva (Moscow). Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ.

Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm ghiếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

Tất cả những lời lẽ của giới lãnh đạo vừa ngu xuẩn vừa dối trá. Bản thân họ biết sự dối trá đó. Tất cả những kẻ mở mồm nói Xã Hội Chủ Nghĩa thì con cái chúng nó đều buôn bán, đều làm mọi cách tận thu, tận dụng, ăn cắp thật là nhiều tiền và trở thành những thằng tư bản. Chúng nó phát huy tối đa khả năng ăn cắp, ăn cướp, biến tất cả tiền tài, của cải của nhân dân trở thành vốn liếng riêng của chúng nó, hoặc là gởi tiền ra nước ngoài để sau này họ chuồn, hoặc là nếu tình hình còn thuận tiện thì họ sẽ ở lại trong nước để giữ một vốn liếng to lớn trực tiếp lấy từ xương máu của dân chúng.

Như thế có nghĩa là không biết bao thế hệ nữa của con cháu chúng tôi, nhất là con cháu của hơn 60 triệu nông dân, phải trả nợ cho hành động nhũng lạm của bọn chúng. Còn về Xã Hội Chủ Nghĩa thì những người nào không ngu lắm thì họ cũng đều biết rằng chủ nghĩa này chỉ là câu nói đầu lưỡi.

Tại sao giới lãnh đạo đảng nói thế? Họ nói thế vì họ dựa vào sự hèn hạ, sự hèn nhát của dân chúng. Dân chúng sợ hãi họ vì bản thân của chế độ này là chế độ dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lênin, cho nên người dân vì sợ hãi mà phải hèn nhát cúi đầu, cho dù dân chúng biết rằng, cả người nói và người nghe đều biết những điều ấy là những điều giả dối. Người nói thì trơ tráo vô liêm sỉ, còn người nghe thì vì sợ hãi nên đành nuốt nước bọt thôi.

Tôi nghĩ rằng ai cũng biết, toàn thành phố Hà Nội này người ta biết từng con cái đám lãnh đạo, con “thằng” Phan Văn Khải thì thế nào, con rể “thằng” Ðỗ Mười thì như thế nào.v.v … dân chúng người ta biết từng chi tiết một. Tóm lại, không có gì đáng bàn về cái thứ Chủ Nghĩa Xã Hội, tất cả chỉ là trò lừa bịp của danh từ và sự lừa bịp này còn tồn tại vì nó dựa trên hai vế. Vế thứ nhất, kẻ cầm quyền thì dùng sức mạnh và bạo lực đàn áp dân chúng, còn vế thứ hai là dân chúng cam phận, hèn nhát vì sợ bạo lực và vì tinh thần nô lệ nó đã tẩm nhiễm quá lâu rồi.

Ngày 30 tháng Tư là một ngày mà tôi nhìn thấy sự trớ trêu của số phận đất nước Việt Nam. Ngày 30 tháng Tư là một kỷ niệm nặng nhọc và buồn phiền, hai bên đánh nhau và cuối cùng thì một nửa nước chiến thắng vênh váo. Tôi nghĩ rằng sau này lịch sử sẽ nhìn lại ngày 30 tháng Tư đó là một ngày đau khổ và cuộc chiến tranh bấy giờ là một cuộc chiến tranh tồi tệ nhất của người dân Việt Nam.

Nhà văn DƯƠNG THU HƯƠNG

NO COMMENTS